- Tranh chấp gì? "QUYẾT ĐỊNH Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn đối với Vi Văn T, sinh ngày 10 tháng 7 năm 1970; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã G, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TAND HUYỆN CHI LĂNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 09/QĐ-TA | Chi Lăng, ngày 17 tháng 10 năm 2017 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Đặng Thị Duyện.
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Minh.
Ngày 17 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 09/QĐ-TA ngày 11 tháng 10 năm 2017 đối với:
Họ và tên: Vi Văn T. Giới tính: Nam.
Sinh ngày 10 tháng 7 năm 1970.
CMND số: 080872692; ngày cấp: 14/11/2007; nơi cấp: Công an tỉnh Lạng Sơn.
Dân tộc: Tày.
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: Lớp 10/10.
Nguyên quán: Xã G, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã G, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
Chỗ ở: Thôn N, xã G, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
Nghề nghiệp: Làm ruộng.
Tiền án: Không có. Tiền sự: Vi Văn T bị Ủy ban nhân dân xã G, huyện C ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã số 38b/QĐ-UBND, ngày 22/5/2017 với thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 22/5/2017 đến 22/8/2017.
Con ông: Vi Vượng T và con bà Trịnh Thị N.
Vi Văn T vắng mặt tại phiên họp không có lý do.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn: Ông Lương Văn Vịnh - Trưởng phòng.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn: Bà Hoàng Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Do Vi Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nên Công an xã G, huyện C đã lập hồ sơ đề nghị Ủy ban nhân dân xã G đưa đối tượng Vi Văn T vào áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Ngày 22/5/2017 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã G, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã ra Quyết định số 38b/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Vi Văn T với thời hạn là 03 tháng. Ngày 22/8/2017 Vi Văn T đã chấp hành xong biện pháp trên, theo giấy chứng nhận số 50/GCN-UBND ngày 22/8/2017 của Ủy ban nhân dân xã G.
Sau khi chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại cấp xã Vi Văn T vẫn nghiện và có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi này đã bị cơ quan chức năng lập Biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 28 Luật phòng chống ma túy; Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Tại phiên họp:
Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh Lạng Sơn trình bày ý kiến: Đối tượng Vi Văn T đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, nhưng không tiến bộ, vẫn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn xã G, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong quá trình lập hồ sơ người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh Lạng Sơn đề nghị đưa đối tượng Vi Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 (hai mươi tư) tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến: Hồ sơ, thủ tục về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn T là đảm bảo tuân theo đúng quy định của pháp luật. Trình tự thủ tục tại phiên họp được thực hiện đầy đủ và theo đúng luật định. Người tiến hành phiên họp và người tham gia phiên họp chấp hành đúng quy định của pháp luật. Áp dụng theo đúng Điều 3, Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 11, Điều 12, Điều 16, Điều 17, Điều 20 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đại diện Viện kiểm sát nhất trí với quan điểm như Cơ quan đề nghị là đưa Vi Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 24 tháng.
XÉT THẤY:
[
Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn T được thực hiện như sau:
Đối với các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ đề nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính: Hồ sơ đã có bản tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị đầy đủ theo quy định; có Quyết định số 38b/QĐ-UBND ngày 22/5/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã G về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, phường đối với Vi Văn T phù hợp theo quy định tại Điều 98 Luật xử lý vi phạm hành chính; trong hồ sơ có đầy đủ tài liệu chứng minh những hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng Vi Văn T, thể hiện rõ hành vi vi phạm hành chính về sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp theo quy định tại Điều 95 của Luật xử lý vi phạm hành chính; hồ sơ đã có bản tường trình đầy đủ của người vi phạm Vi Văn T.
Đối với thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm. Tính từ ngày 23/8/2017 là ngày Vi Văn T thực hiện hành vi vi phạm lần cuối thì thời hiệu vẫn đảm bảo phù hợp theo quy định.
Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là nam giới, sinh ngày 10 tháng 7 năm 1970, không có căn cứ chứng minh bị mất hoặc hạn chế năng lực trách nhiệm hành chính. Nên đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Đối với thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là đúng theo quy định của pháp luật: Theo điểm a, c khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính, đối tượng có nơi thường trú ổn định tại xã G, huyện C, nên thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã G và Công an xã G có trách nhiệm thu thập tài liệu lập hồ sơ.
Như vậy, hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn T là đầy đủ trình tự, thủ tục, đảm bảo hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Xét về hành vi: Thì hành vi vi phạm của Vi Văn T là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khỏe con người, phá hoại hạnh phúc gia đình và cũng là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, nhưng hành vi trên của Vi Văn T chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Vi Văn T đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng không có tiến bộ. Hành vi này gây hoang mang cho gia đình và xã hội; gây mất trật tự khu vực dân cư, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh trên địa bàn xã G, huyện C.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ Vi Văn T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Xét về nhân thân: Vi Văn T không có tiền án, nhưng có một tiền sự. Xác định Vi Văn T có nhân thân xấu.
Bản thân Vi Văn T có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ hành vi vi phạm của mình là có lỗi, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước (nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự) nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi vi phạm đó của Vi Văn T cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh Lạng Sơn đề nghị đưa đối tượng Vi Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng. Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm mà Vi Văn T gây ra thì cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn T trong một thời gian nhất định thì mới có thời gian để Vi Văn T lao động, học văn hóa, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc, có như vậy mới có thể răn đe, giáo dục Vi Văn T trở thành người công dân có ích cho gia đình, cho xã hội và phòng ngừa chung tội phạm. Mức đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm mà Vi Văn T đã gây ra, nên được chấp nhận.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95, Điều 96; Điều 103; Điều 104; Điều 105; Điều 106 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Căn cứ Điều 8 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Căn cứ các Điều 19; Điều 22; Điều 23; Điều 24; Điều 30; Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn đối với Vi Văn T, sinh ngày 10 tháng 7 năm 1970; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã G, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định:
Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (17/10/2017).
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Công an huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - Người bị áp dụng; - Phòng LĐ-TB & XH huyện Chi Lăng; - Công an huyện Chi Lăng; - VKSND huyện Chi Lăng; - Phòng Tư pháp huyện Chi Lăng; - UBND xã Gia Lộc, huyện Chi Lăng; - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Lưu hồ sơ. | Đặng Thị Duyện |