vanban.org

Quyết định 09/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn đối với Vi Tuấn A , sinh ngày 02 tháng 11 năm 1991; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn L, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Vi Tuấn A"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn đối với Vi Tuấn A , sinh ngày 02 tháng 11 năm 1991; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn L, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHI LĂNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 09/QĐ-TAChi Lăng, ngày 24 tháng 8 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Na.

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Minh.

Ngày 21 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 09/QĐ-TA ngày 13 tháng 5 năm 2019 đối với:

Họ và tên: Vi Tuấn A. Giới tính: Nam.

Sinh ngày 02 tháng 11 năm 1991.

CMND: 082185088. Ngày cấp 12 tháng 7 năm 2017. Nơi cấp: Công an tỉnh Lạng Sơn.

Dân tộc: Tày.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: Lớp 6/12.

Nguyên quán: Xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn L, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Nghề nghiệp: Không.

Tiền án: Ngày 04 tháng 5 năm 2010 tại bản án hình sự sơ thẩm số 12/2010/HSST bị Tòa án nhân dân huyện C xử phạt 06 năm tù giam về tội cướp tài sản.

Tiền sự:

Ngày 10 tháng 5 năm 2009 bị Công an huyện C xử phạt 200.000đ vì có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Ngày 05 tháng 4 năm 2019 bị Ủy ban nhân dân xã B, huyện C ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, phường, thị trấn số 26b/QĐ-UBND với thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 05 tháng 4 năm 2019 đến ngày 05 tháng 7 năm 2019.

Con ông Vi Văn T và con bà Vi Thị E.

Vi Tuấn A có mặt.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội – Dân tộc huyện C, tỉnh Lạng Sơn: Bà Đoàn Thu Trà – Trưởng phòng.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn: Bà Hoàng Thị Loan - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Vi Tuấn A có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nên Công an xã B, huyện Chi Lăng đã lập hồ sơ đề nghị Ủy ban nhân dân xã Hòa Bình đưa đối tượng Vi Tuấn A vào áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Ngày 05 tháng 4 năm 2019 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã ra Quyết định số 26b/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Vi Tuấn A thời hạn là 03 tháng. Ngày 05 tháng 7 năm 2019 Vi Tuấn A đã chấp hành xong biện pháp trên, theo giấy chứng nhận số 59a/GCN-UBND ngày 09 tháng 7 năm 2019 của Ủy ban nhân dân xã B , huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Sau khi chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại cấp xã Vi Tuấn A tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi này đã bị cơ quan chức năng lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 28 Luật phòng chống ma túy; lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội – Dân tộc huyện C, tỉnh Lạng Sơn trình bày ý kiến: Đối tượng Vi Tuấn A đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, phường, thị trấn nhưng không tiến bộ, vẫn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong quá trình lập hồ sơ người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội – Dân tộc huyện C, tỉnh Lạng Sơn đề nghị đưa đối tượng Vi Tuấn A vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 (hai mươi tư) tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn.

Người bị đề nghị Vi Tuấn A có mặt tại phiên họp không có ý kiến gì. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến: Hồ sơ, thủ tục về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Tuấn A là đảm bảo tuân theo đúng quy định của pháp luật. Trình tự thủ tục tại phiên họp được thực hiện đầy đủ và theo đúng luật định. Người tiến hành phiên họp và người tham gia phiên họp chấp hành đúng quy định của pháp luật. Áp dụng khoản 1 Điều 96, 103, 104, 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 9 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09 tháng 9 năm 2016 và Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Có đủ căn cứ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Tuấn A . Đề nghị Tòa án nhân dân huyện C chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội – Dân tộc huyện C.

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Tuấn A được thực hiện như sau:

Đối với các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ đề nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính: Hồ sơ đã có bản tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị đầy đủ theo quy định; có Quyết định số 26b/QĐ-UBND ngày 05 tháng 4 năm 2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, phường, thị trấn đối với Vi Tuấn A phù hợp theo quy định tại Điều 98 Luật xử lý vi phạm hành chính; trong hồ sơ có đầy đủ tài liệu chứng minh những hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng Vi Tuấn A , thể hiện rõ hành vi vi phạm hành chính về sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp theo quy định tại Điều 95 của Luật xử lý vi phạm hành chính; hồ sơ đã có bản tường trình của người vi phạm Vi Tuấn A.

Đối với thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm. Tính từ ngày 10 tháng 7 năm 2019 là ngày Vi Tuấn A thực hiện hành vi vi phạm lần cuối thì thời hiệu vẫn đảm bảo phù hợp theo quy định.

Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là nam giới, sinh ngày 02 tháng 11 năm 1991, không có căn cứ chứng minh bị mất hoặc hạn chế năng lực trách nhiệm hành chính. Nên đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Đối với thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là đúng theo quy định của pháp luật: Theo khoản 2 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính, đối tượng có nơi thường trú ổn định tại xã B, huyện C nên thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B và Công an xã B có trách nhiệm thu thập tài liệu lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Tuấn A . Ngày 31 tháng 7 năm 2019 Phòng Tư pháp huyện C có thông báo số 12/TB-PTP về việc kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Tuấn A đủ điều kiện theo quy định.

Như vậy, hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Tuấn A là đầy đủ trình tự, thủ tục, đảm bảo hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Xét về hành vi: Thì hành vi vi phạm của Vi Tuấn A là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khỏe con người, phá hoại hạnh phúc gia đình và cũng là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, nhưng hành vi trên của Vi Tuấn A chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Vi Tuấn A đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng không có tiến bộ. Hành vi này gây hoang mang cho gia đình và xã hội; gây mất trật tự khu vực dân cư, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh trên địa bàn xã B, huyện C.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ Vi Tuấn A đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Xét về nhân thân: Vi Tuấn A có 01 tiền án về hành vi cướp tài sản, 01 tiền sự về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Xác định Vi Tuấn A có nhân thân xấu.

Bản thân Vi Tuấn A có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ hành vi vi phạm của mình là có lỗi, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước (chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự) nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi vi phạm đó của Vi Tuấn A cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Tại phiên họp đại diện Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội – Dân tộc huyện C, tỉnh Lạng Sơn đề nghị đưa đối tượng Vi Tuấn A vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng. Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm mà Vi Tuấn A gây ra thì cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Tuấn A trong một thời gian nhất định để Vi Tuấn A lao động, học văn hóa, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc, có như vậy mới có thể răn đe, giáo dục Vi Tuấn A trở thành người công dân có ích cho gia đình, cho xã hội và phòng ngừa chung tội phạm. Mức đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội – Dân tộc huyện C là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm mà Vi Tuấn A đã gây ra, nên được chấp nhận.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; 96; 103; 104; 105; 106 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ Điều 8 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Căn cứ các Điều 19; 22; 23; 24; 30; 31 và 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn đối với Vi Tuấn A , sinh ngày 02 tháng 11 năm 1991; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn L, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định:

Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (ngày 21 tháng 8 năm 2019).

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (ngày 21 tháng 8 năm 2019).

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội – Dân tộc huyện C, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Cỡ chữ