- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Kim Thúy Duy yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
- Tòa quyết gì? 39, các Điều 146, 149, 361, 366, 367, 370, 371, 372, 401 và 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 09/2026/QĐST-VLĐ | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 01 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Chu Thị Vân.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Tường Vi - Thư ký Tòa án nhân dân
Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành
phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý
“ số: 453/2025/TLST-VLĐ ngày 19 tháng 12 năm 2025 về việc Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 293/2025/QĐST-VLĐ ngày 31 tháng 12 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Bà Kim Thúy D, sinh năm: 1995 (CCCD xxxxxxxxxxxx);
thường trú: Ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp: Bà Lê Minh N, sinh năm 2003; địa chỉ: Số E
đường N, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền (Giấy giấy ủy quyền ngày 26/11/2025). Có yêu cầu vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê Hữu L, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn I, xã T, tỉnh Thanh Hóa. Có
yêu cầu vắng mặt.
2. Bảo hiểm xã hội cơ sở L1; địa chỉ: Đường N, phường L, Thành phố Hồ
Chí Minh. Vắng mặt.
3. Công ty TNHH H; trụ sở: Số H Đường Đ, khu phố B, phường T, Thành
phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
4. Ông Lê Đăng Q, sinh năm 1942; Có yêu cầu vắng mặt.
5. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1950; Có yêu cầu vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn I, xã T, tỉnh Thanh Hóa.
6. Cháu Lê Đăng T, sinh năm 2023; địa chỉ: Thôn I, xã T, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện hợp pháp của cháu T: Bà Kim Thúy D, sinh năm: 1995; địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau. Có yêu cầu vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:
- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải
quyết bà Kim Thúy D trình bày:
Bà Kim Thúy D và ông Lê Đăng C1 là vợ chồng theo Giấy Chứng nhận kết
hôn số 22/2023 cấp ngày 15/05/2023 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay là xã T, tỉnh Cà Mau). Ông Lê Đăng C1 chết do tai nạn giao thông ngày 24/09/2024 theo Giấy Trích lục khai tử số 62/2024/TLHT do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã T, tỉnh Thanh Hóa) cấp ngày 30/09/2024. Ông Lê Đăng C1 có cha là ông Lê Đăng Q, sinh năm 1942; mẹ là bà Nguyễn Thị C2, sinh năm 1950 và con là Lê Đăng T, sinh năm 2023 cùng thường trú tại Thôn I, xã T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi ông C1 chết, bà D làm thủ tục hưởng chế độ tử tuất của ông C1 nên có liên hệ với Cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Đ làm thủ tục thì Cơ quan Bảo hiểm xã hội cho bà D biết quá trình tham gia bảo hiểm xã hội của ông C1 bị trùng thời gian đóng từ tháng 06/2008 đến tháng 03/2011. Lý do bị trùng là vào năm 2008 ông Lê Hữu L (cháu của ông C1) do hoàn cảnh gia đình khó khăn, có nhu cầu xin đi làm việc nhưng chưa đủ tuổi lao động nên ông C1 cho mượn giấy tờ cá nhân để xin việc làm tại Công ty TNHH H từ tháng 06/2008 đến tháng 03/2011. Qáu trình làm việc ông L được tham gia đóng bảo hiểm xã hội theo số sổ Bảo hiểm xã hội là 7408170530 nhưng thông tin người đứng tên là Lê Đăng C1. Đồng thời trong thời gian đó ông C1 làm việc tại Công ty TNHH Y từ tháng 3/2007 đến tháng 09/2024 (tổng là 17 năm 6 tháng) theo số sổ Bảo hiểm xã hội là 4707089366. Như vậy, ông C1 bị trùng sổ bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ tháng 06/2008 đến tháng 03/2011. Trong Biên bản làm việc số 90/BBLV lập ngày 03/10/2025 tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đ thì ông Lê Hữu L cũng thừa nhận việc đóng trùng bảo hiểm xã hội như trên là trùng khớp với khoảng thời gian ông C1 cho ông L mượn hồ sơ để đi làm tại Công ty TNHH H, Công ty TNHH Y xác nhận ông C1 làm việc và đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 3/2007 đến tháng 09/2024 là sự thật. Do ông C1 không hiểu biết về pháp luật nên đã cho người khác mượn hồ sơ đi làm, điều này trái quy định pháp luật dẫn đến hậu quả hồ sơ bảo hiểm xã hội của ông C1 có thời gian bị đóng trùng nên không thể giải quyết chế độ tử tuất cho ông C1 theo chính sách bảo hiểm xã hội và quy định pháp luật. Vì vậy, nay bà Kim Thúy D yêu cầu Toà án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết: Tuyên Hợp đồng lao động giữa tên ông Lê Đăng C1 (người trực tiếp ký kết hợp đồng là ông Lê Hữu L), với Công ty TNHH H trong thời gian từ tháng 6/2008 đến tháng 03/2011 là vô hiệu. Bà D không yêu cầu Toà án giải quyết hậu quả của việc hợp đồng vô hiệu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hữu L trình bày: Ông L là
cháu của ông Lê Đăng C1. Khoảng năm 2008, do chưa đủ tuổi để làm hồ sơ xin việc làm nên ông L mượn thông tin cá nhân của ông C1 để xin việc làm tại Công ty TNHH H và được tham gia Bảo hiểm xã hội số 7408170530 từ tháng 6/2008 đến tháng 3/2011. Đồng thời trong thời gian đó ông C1 làm việc tại Công ty TNHH Y từ tháng 3/2007 đến tháng 09/2024 (tổng là 17 năm 6 tháng) và tham gia Bảo hiểm xã hội theo số sổ là 4707089366 dẫn đến bị trung bảo hiểm. Nay ông C1 đã chết do tai nạn gia thông nên vợ của ông C1 là bà D làm thủ tục Bảo hiểm xã hội cho ông C1 mới phát hiện do đó bà D yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Lê Đăng C1 (thực tế là ông L giao kết và làm việc) với Công ty TNHH H bị vô hiệu thì ông L đồng ý. Ông L không yêu cầu xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Đăng Q và bà Nguyễn Thị
C2 trình bày: Ông Q và bà C2 là cha mẹ ruột của ông Lê Đăng C1. Ông C1 và bà D kết hôn năm 2023 theo Giấy Chứng nhận kết hôn số 22/2023 cấp ngày 15/05/2023 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (nay là xã T, tỉnh Cà Mau). Ông Lê Đăng C1 chết do tai nạn giao thông ngày 24/09/2024 theo Giấy Trích lục khai tử số 62/2024/TLHT do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã T, tỉnh Thanh Hóa) cấp ngày 30/09/2024. Sau khi ông C1 chết, bà D liên hệ với Cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Đ làm thủ tục thì Cơ quan Bảo hiểm xã hội cho biết quá trình tham gia bảo hiểm xã hội ông C1 bị trùng thời gian đóng từ tháng 06/2008 đến tháng 03/2011. Lý do bị trùng là do ông C1 cho cháu Lê Hữu L mượn thông tin cá nhân để xin việc làm. Ông L đi làm tại Công ty TNHH H Tổng từ tháng 06/2008 đến tháng 03/2011 và tham gia đóng bảo hiểm xã hội theo số số là 7408 170 530. Đồng thời trong thời gian đó ông C1 có tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH Y từ tháng 3/2007 đến tháng 09/2024 (tổng là 17 năm 6 tháng) theo số sổ là 4707089366. Việc mượn hồ sơ người khác để đi làm là hành vi trái quy định pháp luật dẫn đến hậu quả hồ sơ bảo hiểm xã hội của ông C1 có thời gian bị đóng trùng nên không thể giải quyết chế độ tử tuất cho ông C1 theo chính sách bảo hiểm xã hội và quy định pháp luật. Vì vậy, nay đối với yêu cầu của bà Kim Thúy D về việc tuyên hợp đồng lao động giữa ông Lê Đăng C1 với Công ty TNHH H trong thời gian từ tháng 6/2008 đến tháng 03/2011 vô hiệu thìông Q và bà C2 đồng ý và không yêu cầu Toà án giải quyết hậu quả của việc Hợp đồng vô hiệu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở L1 và Công
ty TNHH H Tổng không cung cấp ý kiến và tài liệu chứng cứ để Tòa án xem xét.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ
Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Người yêu cầu bà Kim Thúy D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hữu L, ông Lê Đăng Q, bà Nguyễn Thị C2, bà Kim Thúy D có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bảo hiểm xã hội cơ sở L1 và Công ty TNHH H vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự là phù hợp. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của bà Kim Thúy D là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu bà Kim Thúy D, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Lê Hữu L, ông Lê Đăng Q, bà Nguyễn Thị C2, bà Kim Thúy D có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bảo hiểm xã hội cơ sở L1 và Công ty TNHH H vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Xem xét yêu cầu của đương sự:
Trong khoảng thời gian từ tháng 6/2008 đến tháng 3/2011, người lao
động có tên Lê Đăng C1 làm việc tại Công ty TNHH H và tham gia bảo hiểm xã hội số 7408170530. Tuy nhiên, bà D xác định, ông C1 làm việc tại Công ty TNHH Y từ tháng 3/2007 đến tháng 09/2024 (tổng là 17 năm 6 tháng) và tham gia bảo hiểm xã hội theo số sổ là 4707089366.
Xét thấy, lời khai của bà D phù hợp với lời khai của ông Lê Hữu L và
quá trình tham gia bảo hiểm xã hội của ông Lê Đăng C1, bởi lẽ trong thời gian từ tháng tháng 6/2008 đến tháng 3/2011, ông Lê Đăng C1 làm việc tại Công ty TNHH Y và tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 4707089366.
Theo khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15
của Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”.
Do đó, có căn cứ xác định chủ thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty
TNHH H trong khoảng thời gian từ tháng 6/2008 đến tháng 03/2011 không phải là ông Lê Đăng C1 nên toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động vi phạm pháp luật và bị vô hiệu.
Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Kim
Thúy D về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Lê Đăng C1 với Công ty TNHH H (theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408170530) bị vô hiệu.
Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem xét
yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu: “... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của bà Kim Thúy D về việc xác định người lao động tại Công ty TNHH H trong giai đoạn từ tháng 6/2008 đến tháng 03/2011 không phải là ông Lê Đăng C1. Bà Kim Thúy D, ông Lê Đăng Q, bà Nguyễn Thị C2 và cháu Lê Đăng T có người đại diện hợp pháp là bà Kim Thúy D có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7408170530.
Y kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ
Chí Minh về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí: Bà Kim Thúy D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều
39, các Điều 146, 149, 361, 366, 367, 370, 371, 372, 401 và 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 17, khoản 2 Điều 19, các Điều 50, 51 và 52 của Bộ
luật Lao động năm 2012;
- Căn cứ khoản 1 Điều 15, khoản 2 Điều 16, các Điều 49, 50 và 51 của Bộ
luật Lao động năm 2019;
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Kim Thúy D.
- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Lê Đăng C1 với Công ty TNHH H
(Theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408170530) bị vô hiệu.
- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408170530 không
phải là ông Lê Đăng C1, sinh năm 1989; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx. Bà Kim Thúy D, ông Lê Đăng Q, bà Nguyễn Thị C2 và cháu Lê Đăng T có người đại diện hợp pháp là bà Kim Thúy D là người kế thừa quyền và nghĩa vụ hợp pháp của ông Lê Đăng C1 được quyền liên hệ với C có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7408170530.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Kim Thúy D phải chịu
300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0048890 ngày 12/12/2025 của Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng
cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 16, TP.Hồ Chí Minh; - Phòng THADS khu vực 16, TP.Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu: VP, HSVA. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Chu Thị Vân |