- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Vũ Thị H - Vũ Văn B"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Vũ Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 09/2025/QĐST-VDS | TP. Hải Dương, ngày 26 tháng 5 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh.
Thư ký phiên họp: Ông Mai Văn Việt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Đỗ Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 26/5/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2025/TLST-DS ngày 06/01/2025 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 35/2025/QĐST-VDS ngày 16/5/2025, gồm những người tham gia tố tụng sau:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1956; nơi cư trú: khu dân cư N, thị trấn G, huyện L, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Vũ Mạnh T, sinh năm 1996; nơi cư trú: thôn NP, xã GX, thành phố D, tỉnh Hải Dương.
- Người bị yêu cầu: Ông Vũ Văn B, sinh năm 1976; nơi cư trú cuối cùng: thôn NP, xã GX, thành phố D, tỉnh Hải Dương.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Vũ Thị V1, sinh năm 1952; nơi cư trú: thôn NP, xã GX, thành phố D, tỉnh Hải Dương.
+ Bà Vũ Thị V2, sinh năm 1963; nơi cư trú: thôn HL, xã Đ, huyện PC, tỉnh Hưng Yên.
+ Bà Hồ Thị V3, sinh năm 1965; nơi cư trú: thôn NP, xã GX, thành phố D, tỉnh Hải Dương.
+ Chị Vũ Thị V4, sinh năm 1993; nơi cư trú: thôn Tằng Hạ, xã GX, thành phố D, tỉnh Hải Dương.
+ Bà Vũ Thị V5, sinh năm 1970; nơi cư trú: thôn LN, xã Y, huyện L, tỉnh Hải Dương.
+ Bà Nguyễn Thị V6, sinh năm 1972; nơi cư trú: thôn NP, xã GX, thành phố D, tỉnh Hải Dương.
+ Anh Vũ Mạnh T, sinh năm 1996; nơi cư trú: thôn NP, xã GX, thành phố D, tỉnh Hải Dương.
+ Chị Vũ Thị Kim V7, sinh năm 2004; nơi cư trú: thôn NP, xã GX, thành phố D, tỉnh Hải Dương.
+ Anh Vũ Văn V8, sinh ngày 02/12/2010; nơi cư trú: thôn NP, xã GX, thành phố D, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện hợp pháp của anh V8: Bà Nguyễn Thị V6, sinh năm 1972; nơi cư trú: thôn NP, xã GX, thành phố D, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Vũ Thị V1, bà Vũ Thị V2, bà Hồ Thị V3, chị Vũ Thị V4, bà Vũ Thị V5, bà Nguyễn Thị V6, chị Vũ Thị Kim V7: Anh Vũ Mạnh T, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn NP, xã GX, thành phố D, tỉnh Hải Dương.
Tại phiên họp vắng mặt tất cả các đương sự.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Tại đơn yêu cầu và trong quá trình giải quyết việc dân sự, bà Vũ Thị H là người yêu cầu, anh Vũ Mạnh T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị V1, bà Vũ Thị V2, bà Hồ Thị V3, chị Vũ Thị V4, bà Vũ Thị V5, bà Nguyễn Thị V6, chị Vũ Thị Kim V7 trình bày:
Cụ Vũ Văn H1 (chết năm 2010) và cụ Vũ Thị H2 (chết năm 2010) là vợ chồng. Cụ H1 và cụ H2 sinh được 08 người con gồm: bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị V1, ông Vũ Văn H3 (ông H3 là liệt sĩ đã chết năm 1973, không có vợ, con), bà Vũ Thị V2, ông Vũ Văn H4 (ông H4 chết năm 2011, có vợ là bà Hồ Thị V3 và con là chị Vũ Thị V4), bà Vũ Thị V5, ông Vũ Văn H5 (ông H5 chết năm 2018, có vợ là bà Nguyễn Thị V6 và con là anh Vũ Mạnh T, chị Vũ Thị Kim V7, anh Vũ Văn V8), ông Vũ Văn B.
Ông Vũ Văn B không có vợ, con. Trước khi ông B bỏ nhà đi biệt tích vào năm 2017 thì ông B sinh sống ở thôn NP, xã GX, thành phố D, tỉnh Hải Dương. Sau nhiều năm tìm kiếm không có kết quả, vào tháng 9/2024, bà H đã đăng tin tìm kiếm ông B trên Đài phát thanh và truyền hình tỉnh Hải Dương. Kể từ thời điểm bà H đăng tin tìm kiếm cũng như Tòa án đăng tin tìm kiếm từ tháng 01/2025 đến nay, gia đình không có thông tin về ông B, không biết ông B còn sống hay đã chết, không có ai phản ánh thông tin liên quan đến ông B. Vì vậy, bà Vũ Thị H yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương tuyên bố ông Vũ Văn B là đã chết.
Về chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm ông Vũ Văn B: anh Vũ Mạnh T tự chịu chi phí nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
UBND xã GX, trưởng thôn NP, xã GX cung cấp: Cụ Vũ Văn H1 (chết năm 2010) và cụ Vũ Thị H2 (chết năm 2010) là vợ chồng, sinh được 08 người con: bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị V1, ông Vũ Văn H3, bà Vũ Thị V2, ông Vũ Văn H4, bà Vũ Thị V5, ông Vũ Văn H5, ông Vũ Văn B. Ông B không có vợ, con. Ông B bỏ đi biệt tích từ năm 2017 đến nay không có tin tức, không biết ông B còn sống hay đã chết. Trước khi bỏ đi biệt tích, ông B cư trú tại thôn NP, xã GX, thành phố D, tỉnh Hải Dương.
Phòng quản lý xuất nhập cảnh – Công an tỉnh Hải Dương cung cấp: Không có thông tin xuất nhập cảnh của ông Vũ Văn B.
Tại phiên họp:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký đều được đảm bảo. Đương sự chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết việc dân sự: Đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, các điều 367, 370, 391 và 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Vũ Thị H. Tuyên bố: ông Vũ Văn B, sinh năm 1976, nơi cư trú cuối cùng: thôn NP, xã GX, thành phố D, tỉnh Hải Dương là đã chết. Ngày chết của ông Vũ Văn B được xác định là ngày 04/01/2023. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố ông Vũ Văn B là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân, gia đình, quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của ông B được giải quyết như đối với một người đã chết. Tài sản của ông B được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Miễn nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự cho bà Vũ Thị H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Vũ Mạnh T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu bà Vũ Thị H, những người có có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị V1, bà Vũ Thị V2, bà Hồ Thị V3, chị Vũ Thị V4, bà Vũ Thị V5, bà Nguyễn Thị V6, chị Vũ Thị Kim V7 có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt những người trên.
Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết: Bà Vũ Thị H yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết đối với ông Vũ Văn B, nơi cư trú cuối cùng: thôn NP, xã GX, thành phố D, tỉnh Hải Dương. Toà án nhân dân thành phố Hải Dương thụ lý việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung việc dân sự:
Ông Vũ Văn B bỏ nhà đi từ năm 2017 đến nay, không có tin tức. Bà Vũ Thị H và gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn không có tin tức của ông B. Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án ra Quyết định tìm kiếm một người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết, đăng trên báo Nhân dân vào các ngày 15, 16, 17/01/2025, phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam các ngày 17, 18, 19/01/2025, trên Cổng thông tin điện tử UBND tỉnh Hải Dương, Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Từ ngày đăng, phát thông báo tìm kiếm đầu tiên đến nay đã hơn 4 tháng, ông B không trở về và cũng không có bất kỳ tin tức xác thực về việc ông B ở đâu, còn sống hay đã chết. Chính quyền địa phương nơi ông B cư trú cuối cùng và người thân của ông B đều xác định ông B bỏ nhà đi từ năm 2017 đến nay, không có tin tức về việc ông B ở đâu, còn sống hay đã chết.
Bà H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không xác định được cụ thể ngày, tháng biết được tin tức cuối cùng của ông B mà chỉ xác định được năm ông B bỏ đi biệt tích là năm 2017 nên căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 71, khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự, xác định thời điểm biết được tin tức cuối cùng về ông B là ngày 01/01/2018. Thời gian biệt tích của ông B từ ngày 01/01/2018, tính đến nay đã hơn 05 năm liền và không có tin tức xác thực ông B còn sống. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự, xác định yêu cầu của bà Vũ Thị H về việc tuyên bố ông Vũ Văn B là đã chết có căn cứ, cần được chấp nhận.
Ngày biết được tin tức cuối cùng về ông B là ngày 01/01/2018 và thời hạn 05 năm kể từ ngày biết được tin tức cuối cùng kết thúc vào ngày 03/01/2023 nên xác định ngày chết của ông B là ngày 04/01/2023.
Khi quyết định của Tòa án tuyên bố ông Vũ Văn B là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân, gia đình, quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của ông B được giải quyết như đối với một người đã chết. Tài sản của ông B được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự và chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật. Do bà H là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự. Anh T tự nguyện chi trả chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm nên không đặt ra giải quyết.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, các điều 367, 370, 371, 372, 391 và 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Vũ Thị H.
Tuyên bố: ông Vũ Văn B, sinh năm 1976, nơi cư trú cuối cùng: thôn NP, xã GX, thành phố D, tỉnh Hải Dương là đã chết.
Ngày chết của ông Vũ Văn B được xác định là ngày 04/01/2023.
Khi quyết định của Tòa án tuyên bố ông Vũ Văn B là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân, gia đình, quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của ông B được giải quyết như đối với một người đã chết. Tài sản của ông B được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Miễn nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự cho bà Vũ Thị H.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày quyết định được niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND Tp. Hải Dương; - UBND xã GX, Tp. Hải Dương; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Tòa án. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Nguyễn Thị Hoài Thanh |