- Tranh chấp gì? án hành chính — "Trần Văn V “Khiếu kiện quyết định hành chính” Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường K, tỉnh Tây Ninh"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 72/2025/TLST-HC ngày 02 tháng 4 năm 2025 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính” giữa:
- Căn cứ chính? Điều 143 Luật Tố tụng Hành chính; Điều 144 Luật Tố tụng Hành chính; Điều 165 Luật Tố tụng Hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 09/2025/QĐST-HC | Tây Ninh, ngày 01 tháng 8 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phước Thanh;
Các Hội thẩm nhân dân:1. Bà Lê Phan Ngọc Rỹ
2. Bà Phạm Thị Lập
XÉT THẤY
Ngày 02/4/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Long An (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh) thụ lý vụ án hành chính sơ thẩm số 72/2025/TLST-HC về việc ông Trần Văn V, bà Phan Thị Q khởi kiện yêu Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L079065 do Ủy ban nhân dân thị xã T (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường K, tỉnh Tây Ninh) cấp cho ông Trần Quan C vào ngày 28/7/1997 đối với thửa đất 603, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp B, xã L, thành phố T, tỉnh Long An (nay là ấp B, phường K, tỉnh Tây Ninh).
Yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An (người kế thừa quyền và nghĩa vụ của Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường K, tỉnh Tây Ninh) thực hiện nhiệm vụ công vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích là 150m2 thuộc một phần thửa đất số 603, tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc tại ấp B, xã L, thành phố T, tỉnh Long An (nay là ấp B, phường K, tỉnh Tây Ninh) cho ông Trần Văn V và bà Phan Thị Q.
Xét thấy: Vào năm 2011 ông Trần Quan C khởi kiện buộc ông Trần Văn V và bà Phan Thị Q trả lại 01 phần thửa đất 603, tờ bản đồ số 5 mà ông V, bà Q đang quản lý, sử dụng. Ngày 05/01/2012 Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Tây Ninh) thụ lý giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án thì Tòa án nhân dân thành phố Tân An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Tây Ninh) có tổ chức đo vẽ diện tích đất tranh chấp thuộc thửa 603, tờ bản đồ số 5 (trong đó có diện tích đất tranh chấp trong vụ án hành chính này) và có thu thập giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp cho ông C đối với thửa đất 603, tờ bản đồ số 5. Ngày 17/8/2015, Tòa án nhân dân thành phố Tân An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Tây Ninh) đưa vụ án trên ra xét xử. Không đồng ý bản án sơ thẩm ông V, bà Q kháng cáo. Ngày 17/5/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Long An (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh) xét xử phúc thẩm vụ án trên. Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm ông C không yêu cầu cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm xem xét các diện tích đất thuộc thửa số 603, tờ bản đồ số 5 bao gồm: Phần sân, phần cổng do ông V, bà Q quản lý sử dụng và phần mồ mả (tất cả các diện tích đất trên là diện tích đất tranh chấp trong vụ án hành chính này) nên cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm không xem xét các diện tích đất trên trong vụ án dân sự nên ông V, bà Q tiếp tục khởi kiện vụ án hành chính đối với các diện tích đất trên. Ông V, bà Q tham gia giải quyết vụ án dân sự trên từ cấp sơ thẩm đến cấp phúc thẩm nên ông V, bà Q đã biết 01 phần thửa đất 603, tờ bản đồ số 5 do ông V, bà Q quản lý, sử dụng được Ủy ban nhân dân thị xã T cấp cho ông C trong quá trình giải quyết vụ án dân sự (cấp sơ thẩm xét xử ngày 17/8/2015, cấp phúc thẩm xét xử ngày 17/5/2017) nhưng đến ngày 05/02/2025 ông V, bà Q mới nộp đơn khởi kiện tại Toà án nhân dân tỉnh Long An (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh) là đã quá thời hạn 01 năm kể từ ngày ông V, bà Q biết được Ủy ban nhân dân thị xã T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.
Căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 143, Điều 144 và Điều 165 của Luật Tố tụng Hành chính;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 72/2025/TLST-HC ngày 02 tháng 4 năm 2025 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính” giữa:
Người khởi kiện:
- Ông Trần Văn V, sinh năm: 1950.
- Bà Nguyễn Thị Q1, sinh năm: 1951.
Cùng địa chỉ: Số D, ấp B, xã L, thành phố T, tỉnh Long An (nay là số D, ấp B, phường K, tỉnh Tây Ninh).
Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Văn V và bà Phan Thị Q là Luật sư Lê Văn L – Chi nhánh Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T.
Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường K, tỉnh Tây Ninh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường K, tỉnh Tây Ninh là ông Ngô Hoàng T, Trưởng phòng kinh tế - hạ tầng và đô thị phường K, tỉnh Tây Ninh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Quan C, sinh năm 1945. Địa chỉ: Số A, ấp B, xã L, thành phố T, tỉnh Long An (Nay là: Số A, ấp B, phường K, tỉnh Tây Ninh).
2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:
Về quyền khởi kiện: Người khởi kiện không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
3. Về chi phí tố tụng và án phí:
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo vẽ là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) các ông bà Trần Văn V, Phan Thị Q phải chịu. Chi phí này các ông bà Trần Văn V, Phan Thị Q đã nộp xong.
Về án phí: Không đương sự nào phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Do các ông bà Trần Văn V, Phan Thị Q là người cao tuổi được miễn nộp tạm ứng án phí nên không phải hoàn lại tạm ứng án phí cho các ông bà Trần Văn V, Phan Thị Q.
4. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định này.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát tỉnh Tây Ninh; - Cục THADS tỉnh Tây Ninh; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phước Thanh |