- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Tuyên bố một người mất NLHVDS"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Ngô Văn S về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 53 Bộ luật Dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 23 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG --------------------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 09/2025/QĐST-DS | Đà Nẵng, ngày 27 tháng 11 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- ĐÀ NẴNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Văn Lâm
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Dự
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Đà Nẵng tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3- Đà Nẵng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 462/2025/TLST-VDS ngày 03 tháng 11 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”, theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 08/2025/QĐST-VDS ngày 21/11/2025 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Lê Tấn H, sinh năm: 1933
Địa chỉ: Số I đường Ô, phường C, thành phố Đà Nẵng- Có đơn xin vắng mặt;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Phạm Thị T, sinh năm: 1936
Địa chỉ: Số I đường Ô, phường C, thành phố Đà Nẵng- Vắng mặt;
2/ Bà Lê Thị Xuân M, sinh năm: 1963
Địa chỉ: Số I đường Ô, phường C, thành phố Đà Nẵng- Có mặt;
3/ Bà Lê Thị Minh L, sinh năm: 1973
Địa chỉ: Số I đường Ô, phường C, thành phố Đà Nẵng- Có đơn xin vắng mặt;
4/ Ông Lê Văn T1, sinh năm: 1955
Địa chỉ: Số I đường Ô, phường C, thành phố Đà Nẵng- Có đơn xin vắng mặt;
5/ Bà Lê Thị Minh C, sinh năm: 1968
Địa chỉ: Số I đường Ô, phường C, thành phố Đà Nẵng- Có đơn xin vắng mặt;
6/ Bà Lê Nguyễn Hạnh N, sinh năm: 1985
Địa chỉ: Số I đường Ô, phường C, thành phố Đà Nẵng- Có đơn xin vắng mặt;
7/ Bà Lê Thị Bích T2, sinh năm: 1975
Địa chỉ: Số I đường Ô, phường C, thành phố Đà Nẵng- Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu và trong quá trình giải quyết việc dân sự người yêu ông Lê Tấn H trình bày:
Tôi là chồng của bà Phạm Thị T, sinh ngày 10/05/1936, CCCD Số: xxxxxxxxxxxx, do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày: 02/10/2021, thường trú: 98 Ông Í, phường C, thành phố Đà Nẵng. Trong thời gian 03 năm nay vợ tôi vì tuổi đã cao nên trí nhớ bắt đầu giảm sút và ngày càng nặng. Hiện nay bà T đã 89 tuổi, về mặt sức khỏe thì cũng bình thường, thỉnh thoảng đau cảm do tuổi cao. Tuy nhiên về mặt trí nhớ thì lúc nhớ, lúc quên. Bà hay quên những nội dung vừa hỏi nên sẽ hỏi đi hỏi lại một vấn đề dù đã được trả lời trước đó rồi. Bà vẫn mơ hồ hiểu được một số câu hỏi, nhưng không thể trả lời chính xác nội dung, chẳng hạn biết mình có nhiều người con, nhưng chỉ nhận biết được người con nào hay gần gũi chăm sóc mình thường xuyên, nhưng cũng có lúc không nhớ ai tên gì. Trong cuộc sống thường ngày bà T không đủ khả năng nhận thức toàn diện, có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi nên thường xuyên được sự hổ trợ, chăm sóc của các con ở gần gồm Lê Thị Xuân M, Lê Thị Minh L, Lê Văn T1 trong việc vệ sinh cá nhân, ăn uống. Bà cũng có thể tự mình làm được, tự ăn nhưng không như người bình thường nên phải có người chăm sóc.
Vì sức khỏe thể chất bà T vẫn bình thường nên gia đình cũng không thăm khám tại bệnh viện. Các dấu hiệu giảm/mất trí nhớ, khó khăn trong việc nhận thức và làm chủ hành vi là do gia đình sống chung với nhau, quan sát, tiếp xúc thường xuyên nên nhận biết được chứ bà T không chịu đi bệnh viện.
Vì vậy, bằng đơn này kính đề nghị Tòa án thụ lý việc dân sự yêu cầu tuyên bố bà Phạm Thị T là người “có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi” theo quy định pháp luật. Đồng thời chỉ định tôi là người giám hộ, đại diện theo pháp luật cho bà Phạm Thị T theo quy định pháp luật.
* Ngày 11 tháng 11 năm 2025, người yêu cầu ông Lê Tấn H có đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu giải quyết việc dân sự và đề nghị Toà án tuyên bố bà Phạm Thị T mất năng lực hành vi dân sự.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông bà Lê Thị Xuân M, Lê Thị Minh L, Lê Văn T1, Lê Thị Minh C, Lê Nguyễn Hạnh N và Lê Thị Bích T2 cùng thống nhất trình bày:
Chúng tôi thống nhất với trình bày của người yêu cầu ông Lê Tấn H về hàng thừa kế, nhân thân cũng như tình trạng bệnh của bà Phạm Thị T. Nay ông Lê Tấn H yêu cầu Toà án tuyên bố bà Phạm Thị T, sinh năm: 1936. Địa chỉ: Số I đường Ô, phường C, thành phố Đà Nẵng là người mất năng lực hành vi dân sự, chúng tôi đồng ý và đề nghị Toà án tuyên bố bà Phạm Thị T mất năng lực hành vi dân sự để gia đình chúng tôi giải quyết một số vấn đề có liên quan.
* Kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, hội đồng giải quyết việc dân sự, thư ký phiên họp kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm thẩm phán, Hội đồng ra quyết định giải quyết việc dân sự đã tuân thủ đúng quy định tại các điều 365, 366, 369, 370, 378 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và việc chấp hành pháp luật của các đương sự tuân thủ đúng quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Sau khi xem xét chứng cứ trong hồ sơ thì thấy bà Phạm Thị T mất năng lực hành vi dân sự. Do đó, có đủ cơ sở để chấp nhận đơn yêu cầu của ông Lê Tấn H đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 3- Đà Nẵng tuyên bố bà Phạm Thị T mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 3- Đà Nẵng nhận định:
- Về tố tụng: [1] Ông Lê Tấn H yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Phạm Thị T bị hạn chế, khó khăn trong nhận thức, điều khiển hành vi. Bà Phạm Thị T có nơi cư trú tại số I đường Ô, phường C, thành phố Đà Nẵng nên việc dân sự của ông Lê Tấn H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3- Đà Nẵng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Ngày 11 tháng 11 năm 2025, người yêu cầu ông Lê Tấn H có đơn yêu cầu thay đổi việc yêu cầu giải quyết việc dân sự và đề nghị Toà án tuyên bố bà Phạm Thị T mất năng lực hành vi dân sự. Xét yêu cầu của ông H là trong phạm vi yêu cầu và không vượt quá nên Toà án chấp thuận việc thay đổi yêu cầu của ông Lê Tấn H. [3] Người yêu cầu ông Lê Tấn H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông bà Lê Thị Xuân M, Lê Thị Minh L, Lê Văn T1, Lê Thị Minh C, Lê Nguyễn Hạnh N và Lê Thị Bích T2 có đơn xin vắng mặt nên căn cứ Khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi năm 2025 Hội đồng xét việc vắng mặt những người nêu trên. [4] Ông Lê Tấn H là chồng hợp pháp của bà Phạm Thị T nên có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Phạm Thị T mất năng lực hành vi dân sự.
- Về nội dung: [5] Xét yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Lê Tấn H thì thấy: Sau khi thụ lý việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của ông Lê Tấn H đối với bà Phạm Thị T, sinh năm: 1936. Địa chỉ: Số I đường Ô, phường C, thành phố Đà Nẵng, Tòa án nhân dân Khu vực 3- Đà Nẵng ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 15/2025/QĐ-TCGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2025 trưng cầu Trung tâm P1 giám định về tâm thần đối với bà Phạm Thị T. [6] Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 2077/KLGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2025 của Trung tâm P1 kết luận tại thời điểm hiện tại: Về tiêu chuẩn y học bà Phạm Thị T mất trí trong bệnh Alzheimer khởi phát muộn, mức độ nặng (F00.1 – ICD – 10); Kết luận về năng lực hành vi dân sự: Bà Phạm Thị T mất năng lực hành vi dân sự. Do đó có đủ căn cứ để tuyên bố bà Phạm Thị T bị mất năng lực hành vi dân sự theo yêu cầu của Ông Lê Tấn H là phù hợp với quy định tại Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 phù hợp với đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên họp nên Tòa án chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu. [7] Lệ phí Tòa án: Lệ phí dân sự sơ thẩm ông Lê Tấn H được miễn do thuộc diện người cao tuổi. [8] Chi phí trưng cầu giám định 5.850.000 đồng ông Lê Tấn H tự nguyện chịu, đã nộp và đã chi xong.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 27; Điều 35; các điều 369; 370; 371; 372; 376; 378 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn yêu cầu của Ông Lê Tấn H về việc “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”.
Tuyên bố: Bà Phạm Thị T, bà Phạm Thị T, sinh năm: 1936. Địa chỉ: Số I đường Ô, phường C, thành phố Đà Nẵng mất năng lực hành vi dân sự.
1. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Lê Tấn H được miễn do thuộc diện người cao tuổi.
2. Chi phí trưng cầu giám định: 5.850.000 đồng ông Lê Tấn H tự nguyện chịu. Ông Lê Tấn H đã nộp và đã chi xong.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định (ngày 27/11/2025); Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định này. Viện Kiểm sát nhân dân cấp trên có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.
Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
- VKSND KV3 - Đà Nẵng;
- T5;
- TAND TP. Đà Nẵng;
- Các đương sự;
- UBND phường C;
- Lưu hồ sơ.
Lê Văn Lâm TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TP. ĐÀ NẴNG Số: /2024/QĐST-DS
Ngũ Hành Sơn, ngày 02 tháng 02 năm 2024
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN - TP. ĐÀ NẴNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Văn L1
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Linh P
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP . tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Quỳnh T3 - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP . mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 05/2023/TLST-VDS ngày 26 tháng 12 năm 2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”, theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2024/QĐST-VDS ngày 19/01/2024 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Ông Ngô Văn S, sinh năm: 1981
Địa chỉ: Tổ C, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng- Có mặt;
* Người được yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1950
Địa chỉ: Tổ C, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng- Vắng mặt;
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Ngô Đ, sinh năm: 1943
Địa chỉ: Tổ C, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng- Xin vắng mặt;
2. Bà Ngô Thị N1, sinh năm: 1976
Địa chỉ: Tổ C, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng- Xin vắng mặt.
3. Bà Ngô Thị B, sinh năm: 1978
Địa chỉ: Tổ A, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng- Xin vắng mặt.
4. Bà Ngô Thị Kim O, sinh năm 1984
Địa chỉ: Tổ C, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng- Xin vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Ông Ngô Văn S trình bày: Mẹ tôi là bà Nguyễn Thị H1 bị bệnh liệt não đã được gia đình đưa đi cứu chữa nhiều nơi nhưng bệnh tình không thuyên giảm. Hiện nay sức khỏe khỏe yếu, nằm một chỗ, không di lại được, mọi sinh hoạt, ăn uống đều phụ thuộc vào người nhà, không nhận thức hành vi của mình. Chúng tôi yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết để xác định người giám hộ của bà Nguyễn Thị H1 nhằm tạo thuận lợi trong việc giải quyết các vấn đề dân sự liên quan đến mẹ tôi là bà Nguyễn Thị H1.
Để tạo điều kiện trong việc giải quyết việc gia đình. Tôi làm đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn giải quyết:
- Tuyên bố bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1950 mất năng lực hành vi dân sự.
- Đề nghị Tòa án cử ông Ngô Văn S là người giám hộ cho bà Nguyễn Thị H1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn nhận định: [1]Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1950 có tiền sử sinh đẻ, phát triển thể chất và tâm thần hoàn toàn bình thường. Bà H1 không đi học và không biết chữ, lớn lên làm nông để kiếm sống, từng đi bộ đội và bị tù đày. Bà H1 đã lạp gia đình có 04 người con.
Ngày 05/5/2008, bà H1 bị tai biến mạch máu não, được gia đình đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện C1, vào viện trong tình trạng hôn mê, sau khoảng 01 tháng mới mở được mắt, được chỉ định phẫu thuật sọ não, đến ngày 19/5/2008 thì xuất viện với chẩn đoán “Khuyết sọ vùng thái dương - đỉnh (T)/Tăng huyết áp”; sau ra viện có điều trị tại Bệnh viện C1 từ ngày 18/6/2008 đến 28/6/2008 với chẩn đoán “Liệt V, người (P)/Cao huyết áp”.
Ngoài ra bà H1 từng 01 lần điều trị nội trú tại Trung tâm Y tế quận N, thành phố Đà Nẵng từ ngày 22/3/2019 đến 28/3/2019 với chẩn đoán “Viêm bàng quang xuất huyết (N30) bệnh tăng huyết áp vô căn (nguyên phát) (110)/đái tháo đường không phụ thuộc insuline (E11)/táo bón (K59.0)/nghẽn tắc và hẹp động mạch trước não, không dẫn đến nhồi máu não (165)”;
Từ sau bị tai biến mạch máu não, bà H1 chỉ nằm một chỗ, không nói được, không biết gì, sống thực vật, liệt tứ chi, ăn qua sonde, đại tiểu tiện không tự chủ, việc vệ sinh cá nhân đều do người nhà trực tiếp chăm sóc.
Tại phiên họp hôm nay, ông Ngô Văn S là con ruột xác định bà Nguyễn Thị H1 mất năng lực hành vi dân sự nên yêu cầu Toà án tuyên bố bà H1 mất năng lực hành vi dân sự. [2] Xét yêu cầu nêu trên của ông S thì thấy: Căn cứ vào bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 130/KLGĐ ngày 19/01/2024 của Trung tâm P1 kết luận thì bà Nguyễn Thị H1:
- Về y học: Mất trí mạch máu khởi phát cấp (F01.0).
- Về năng lực hành vi dân sự: Mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự.
Qua kết quả giám định pháp y của Trung tâm P1 phù hợp với lời trình bày của ông Ngô Văn S về tình trạng hiện tại của bà Nguyễn Thị H1. Do đó, yêu cầu của ông Ngô Văn S là có căn cứ theo quy định tại Điều 22 Bộ luật dân sự nên chấp nhận.
Về việc cử người đại diện theo pháp luật cho bà Nguyễn Thị H1. Xét thấy, ông S có đầy đủ điều kiện của cá nhân làm người giám hộ và yêu cầu này phù hợp với Điều 46, 48 và khoản 3 Điều 53 Bộ luật dân sự nên chấp nhận. [3] Tại phiên họp hôm nay Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP . đề nghị: Căn cứ vào khoản 1 Điều 27, 361, 362, 376, 377, 378 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 23, Điều 53 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên bố bà Nguyễn Thị H1 là người mất năng lực hành vi dân sự.
Cử ông Ngô Văn S là người giám hộ cho bà Nguyễn Thị H1. [4] Về lệ phí giải quyết việc dân sự 300.000 đồng, ông Ngô Văn S tự nguyện chịu.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 22, Điều 48 và khoản 3 Điều 53 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 27, 85, 361, 362, 369, 370, 376, 377, 378 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Ngô Văn S về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.
2. Tuyên bố: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1950; trú tại: tổ C, phường K, quận N, TP . là người mất năng lực hành vi dân sự.
3. Cử ông Ngô Văn S làm người giám hộ cho bà Nguyễn Thị H1. Mọi giao dịch dân sự của bà Nguyễn Thị H1 liên quan đến ba thửa đất gồm:
1. Thửa đất số 48, tờ bản đồ số 93, diện tích 90m2, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 922744, số vào sổ cấp GCN CH 01400; tại địa chỉ: Lô A phân khu B khu dân cư N mở rộng, phường K, quận N, TP ., do UBND quận N, TP . cấp ngày 02/01/2020 đứng tên ông Nguyễn Văn X (Ông X là người đại diện cho các đồng thừa kế dối với thửa đất và tài sản gắn liền với đất của ông Nguyễn Văn T4 (chết) và bà Trần Thị K (chết) theo văn bản về việc thỏa thuận cử người đại diện đứng tên trong giấy chứng nhận do UBND phường K chứng thực ngày 21/8/2019, số chứng thực 312, quyển số 01/2019);
2. Thửa đất số 49, tờ bản đồ số 78, diện tích 699.7m2, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 891980, số vào sổ cấp GCN CH 01059; tại địa chỉ: tổ C, phường K, quận N, TP ., do UBND quận N, TP . cấp ngày 15/7/2019 đứng tên ông Nguyễn Văn T4 (chết) và bà Trần Thị K (chết) (Ông Nguyễn Hồng N2, sinh năm 1959, CMND số xxxxxxxxx, cấp ngày 12/6/2015 do Công an T6 cấp; địa chỉ thường trú tại: số nhà A Hồ H, phường M, quận N, TP . là người đại diện đứng tên trên giấy chứng nhận theo văn bản thỏa thuận thừa kế do UBND phường K chứng thực số 741, quyển số 01/2017 ngày 28/11/2017);
3. Thửa đất số số 50, tờ bản đồ số 93, diện tích 90m2, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 922745, số vào sổ cấp GCN CH 01402; tại địa chỉ: Lô A phân khu B khu dân cư N mở rộng, phường K, quận N, TP ., do UBND quận N, TP . cấp ngày 02/01/2020 đứng tên ông Nguyễn Văn X (Ông X là người đại diện cho các đồng thừa kế dối với thửa đất và tài sản gắn liền với đất của ông Nguyễn Văn T4 (chết) và bà Trần Thị K (chết) theo văn bản về việc thỏa thuận cử người đại diện đứng tên trong giấy chứng nhận do UBND phường K chứng thực ngày 21/8/2019, số chứng thực 312, quyển số 01/2019) phải do ông Ngô Văn S xác lập, thực hiện.
4. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự 300.000 đồng ông Ngô Văn S tự nguyện chịu. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số 0001572 ngày 20/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, TP .. Ông S đã nộp đủ lệ phí.
5. Quyền kháng cáo kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
6. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân Q.Ngũ Hành Sơn; - Chi cục thi hành án Q . Ngũ Hành Sơn; - Lưu hồ sơ; TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN TP. ĐÀ NẴNG BIÊN BẢN PHIÊN HỌP V/v giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự Sơn mở phiên họp giải quyết yêu cầu: Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thụ lý số 05/2016/TLST- DS ngày 03/10/2016, theo quyết định mở phiên họp xét việc số 05/2016/TB- TA ngày 14/11/2016. Với thành phần phiên họp giải quyết việc yêu cầu gồm có: - Chủ toạ phiên họp: Ông Lê Văn Lâm - Thẩm phán Hòa - Kiểm sát viên. - Thư ký phiên họp: Ông Đoàn Công Hồng Lĩnh - Thư ký Toà án Họ tên người yêu cầu: Bà Nguyễn Thị Phụng, sinh năm 1956 Trú tại: K420B/18 Lê Văn Hiến, phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng Hiến, tổ 86, phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng) - Ông Hải có mặt. Họ tên người bị yêu cầu: Bà Hồ Thị Bích Ngọc, sinh năm 1983 Trú tại: K420B/18 Lê Văn Hiến tổ 86, phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng. NỘI DUNG Nhà nước. bà Hồ Thị Bích Ngọc không còn khả năng nhận thức hành vi nên yêu cầu Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi đối với Hồ Thị Bích Ngọc. pháp y tâm thần số 580/KLGĐTC ngày 01/11/2016 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Miền Trung kết luận thì Hồ Thị Bích Ngọc: - Về mặt y học: Chậm phát triển tâm thần mức độ trầm trọng (F73). - Về mặt pháp luật: Mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự. Qua kết quả giám định pháp y của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Miền Trung phù hợp với lời trình bày của ông Hải và tình trạng hiện tại của Hồ Thị Bích Ngọc. Bộ luật dân sự nên chấp nhận. Chủ tọa phiên họp công bố quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự. Biên bản kết thúc vào lúc 08h50’ cùng ngày Thư ký ghi biên bản Đoàn Công Hồng Lĩnh Lê Văn Lâm | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Văn Lâm CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc Hôm nay ngày 23 tháng 11 năm 2016, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngũ Hành - Đại diện VKSND quận Ngũ Hành Sơn tham gia phiên họp: bà Nguyễn Thị (bà Phụng Ủy quyền cho ông Hồ Thanh Hải, sinh năm 1976; Trú tại: K420B/18 Lê Văn Bà Hồ Thị Bích Ngọc, sinh năm 1983 con bà Nguyễn Thị Phụng và ông Hồ Hồng (chết), khi sinh ra đã bị chậm phát triển tâm thần, từ nhỏ đã có biểu hiện chậm biết đi, chậm biết nói, không học được, không đếm được tiền bạc. Bà Hồ Thị Bích Ngọc không làm được việc gì, đại tiểu tiện không tự chủ. Từ vệ sinh cá nhân cho đến việc ăn uống cũng phải do người nhà lo, gia đình đã đi cứu chữa nhiều nơi nhưng không chữa được. Hiện đang sinh sống với bà Phụng và được hưởng chế độ chính sách hàng tháng của Tại phiên họp hôm nay, ông Hải là đại diện theo ủy quyền của bà Phụng xác định Xét yêu cầu nêu trên của bà Phụng thì thấy: Căn cứ vào bản kết luận giám định Do đó yêu cầu của bà Nguyễn Thị Phụng là có căn cứ theo quy định tại điều 22 Chủ Tọa phiên họp |