- Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "UBND xã Chi Lăng Bắc - Anh Vũc Văn Quyết, chị Vũ Thị Thu"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu của Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương về việc yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Vũ Văn Q và chị Vũ Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Hướng…; Luật Phí và lệ phí; Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 09/2024/QĐST-HNGĐ “V/v yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân” | Thanh Miện, ngày 24 tháng 6 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Đào Quang Khuyến.
Thư ký phiên họp: Ông Bùi Hoàng Anh -Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Diên - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tiến hành mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 96/2024/TLST-VDS, ngày 04 tháng 6 năm 2024 về việc “Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 09/2024/QĐST-VDS ngày 10 tháng 6 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Minh Đ - Chủ tịch UBND xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đồng thời là người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Vũ Văn Q, sinh ngày 20/11/1979 và chị Vũ Thị T, sinh ngày 23/8/1978,
Nơi cư trú đều ở: Thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.
(Ông Đ, anh Q, chị T, đều có đơn xin giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Ủy ban nhân dân Xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện giải quyết việc dân sự về việc hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Vũ Văn Q và chị Vũ Thị T vì xác định: Trong giấy chứng nhận kết hôn số 17 ngày 15 tháng 9 năm 1998 của UBND xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương, ghi anh Vũ Văn Q, sinh ngày 10/01/1978 kết hôn với chị Vũ Thị T, sinh ngày 23/8/1978 không đúng với ngày, tháng, năm sinh của anh Q, được thể hiện tại các tài liệu gồm: Giấy khai sinh, sổ hộ khẩu gia đình, giấy chứng minh nhân dân, căn cước công dân của anh Q đều sinh ngày 20/11/1979; chị Vũ Thị T đều sinh ngày 23/8/1978. Như vậy tại thời điểm đăng ký kết hôn ngày 15/9/1998, chị T được 20 tuổi 22 ngày đủ tuổi đăng ký kết hôn. Anh Q được 18 tuổi 09 tháng 25 ngày chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn. Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 “Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn”. Để đủ tuổi đăng ký kết hôn anh Q đã khai tăng tuổi, sinh ngày 10/01/1978 là không đúng với ngày, tháng, năm sinh của anh, nguyên nhân do cán bộ làm thủ tục đăng ký kết hôn chỉ căn cứ vào lời khai của anh Q, chị T mà không kiểm tra, đối chiếu chặt chẽ giấy tờ tuỳ thân của anh Q, chị T cho chính xác, dẫn đến việc đăng ký kết hôn trái pháp luật. Phát hiện việc đăng ký kết hôn và cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho anh Vũ Văn Q và chị Vũ Thị T là trái pháp luật, đại diện UBND xã C, ông Đoàn Minh Đ, Chủ tịch UBND xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Q, chị T; Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 17 ngày 15 tháng 9 năm 1998 của UBND xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương đồng thời công nhận quan hệ hôn nhân giữa Vũ Văn Q, chị Vũ Thị T kể từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn nếu anh Q, chị T có yêu cầu.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đồng thời là người yêu cầu giải quyết việc dân sự anh Q, chị T trình bày: Anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 15/9/1998. Anh Q, chị T khi biết UBND xã C, huyện T có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện hủy việc kết hôn trái pháp luật đối với anh chị, anh chị cũng xác định việc kết hôn giữa anh và chị, tại thời điểm đăng ký kết hôn anh Q chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn là vi phạm điều kiện kết hôn về độ tuổi, anh chị đồng ý với yêu cầu của UBND xã C, huyện T và không có ý kiến gì. Việc ghi anh Vũ Văn Q, sinh ngày 10/01/1978 trong Giấy chứng nhận kết hôn là do anh Q khai tăng tuổi để đủ điều kiện được đăng ký kết hôn. Hiện tại anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc, có 02 con chung, tài sản chung, vì ngày, tháng, năm sinh của anh chị ghi trong giấy chứng nhận kết hôn không khớp nhau dẫn đến bị ảnh hưởng trong việc thủ tục hành chính. Vì vậy anh chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện công nhận quan hệ hôn nhân cho anh chị kể từ thời điểm anh Q đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán
- Chủ tọa phiên họp và Thư ký phiên họp, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự là đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện áp dụng: Khoản 6 Điều 3, Điều 8, Điều 10, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư Pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 370, 371 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6 Luật phí, lệ phí; điểm d khoản 2 Điều 11, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận đơn yêu cầu của Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Vũ Văn Q, sinh ngày 20/11/1979 và chị Vũ Thị T, sinh ngày 23/8/1978, tại thời điểm anh chị đủ điều kiện kết hôn là ngày 20/11/1999.
- Về lệ phí giải quyết việc dân sự: UBND xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương không phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.
Anh Vũ Văn Q, chị Vũ Thị T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự nên phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền lệ phí anh chị đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của người yêu cầu và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương nhận định:
Về Thẩm quyền giải quyết: Anh Vũ Văn Q, chị Vũ Thị T đều có nơi cư trú: thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương. UBND xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương là nơi cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho anh Q, chị T vì vậy UBND xã C, huyện T có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Q, chị T, căn cứ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 17 ngày 15/9/1998 đã cấp cho anh Q, chị T. UBND xã C yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân cho anh Q, chị T từ thời điểm anh Q đủ tuổi đăng ký kết hôn theo luật HNGĐ năm 1986. Anh Q, chị T có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện công nhận quan hệ hôn nhân của anh chị kể từ thời điểm anh Q đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 10, Điều 11 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự việc Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương thụ lý việc dân sự là đúng thẩm quyền.
Về tố tụng: Người yêu cầu UBND xã C, huyện T, ông Đoàn Minh Đ, đại diện theo pháp luật có đơn xin giải quyết vắng mặt. Anh Vũ Văn Q, chị Vũ Thị T đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt tại phiên họp là phù hợp với quy định tại khoản 2,3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt họ.
Về nội dung: Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật (kèm theo Giấy chứng nhận kết hôn số 17, ngày 15/9/1998) của UBND xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương và yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân của anh Q, chị T kể từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ gồm: Giấy khai sinh, sổ hộ khẩu gia đình, giấy chứng minh nhân dân, Căn cước công dân của anh Q, chị T đã có đủ căn cứ chứng minh tại thời điểm đăng ký kết hôn ngày 15/9/1998, chị T, sinh ngày 23/8/1978 được 20 tuổi 22 ngày đủ tuổi đăng ký kết hôn. Anh Q sinh ngày 20/11/1979 thời điểm đăng ký kết hôn được 18 tuổi 09 tháng 25 ngày chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn, do vậy anh Q đã khai, sinh ngày 10/01/1979 để đủ tuổi đăng ký kết hôn. Do việc kiểm tra lý lịch của cán bộ đăng ký kết hôn chưa chặt chẽ, chính xác, UBND xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương đã đăng ký kết hôn cho anh Q, chị T, tại Giấy chứng nhận kết hôn số 17 ngày 15/9/1998; ghi họ và tên người chồng:Vũ Văn Q, sinh ngày 10/01/1978 không đúng với ngày, tháng, năm sinh của anh Q là ngày 20/11/1979. Việc kết hôn đó đã vi phạm vào Điều 5 Luật hôn nhân gia đình năm 1986. Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, tại Điều 5 quy định: “Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn”. Như vậy có đủ căn cứ xác định tại thời điểm đăng ký kết hôn ngày 15/9/1998 anh Q chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn, việc UBND xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương đã đăng ký kết hôn cho anh Q, chị T là trái với quy định của pháp luật. Do vậy UBND xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương có đơn yêu cầu Tòa án Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện hủy việc kết hôn trái pháp luật là có căn cứ quy định tại Điều 5, 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; Khoản 6 Điều 3, Điều 8, 10, 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tại thời điểm yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, anh Q, chị T đều xác định anh chị đã có đủ điều kiện kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc không có mâu thuẫn và có 02 con chung, tài sản chung nhưng vì ngày, tháng, năm sinh của anh Q không khớp nhau đã ảnh hưởng đến việc thủ tục hành chính của gia đình anh chị. Anh Q, chị T đều thống nhất đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện công nhận quan hệ hôn nhân cho anh chị kể từ thời điểm anh Q đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Yêu cầu công nhận hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện và hợp pháp theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư Pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, vì vậy không cần hủy việc kết hôn trái pháp luật mà công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Vũ Văn Q và chị Vũ Thị T kể từ thời điểm anh Q đủ điều kiện kết hôn là ngày 20/11/1999.
Ủy ban nhân dân xã C, huyện T có trách nhiệm ghi vào sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của anh Q, chị T theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 3, Điều 30, Điều 31 Luật hộ tịch số 60/2014/QH13 ngày 20/11/2014.
Về con chung, tài sản chung, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Vũ Văn Q, sinh ngày 20/11/1979 được thể hiện tại giấy khai sinh, sổ hộ khẩu gia đình, giấy chứng minh nhân dân, căn cước công dân nhưng trong giấy chứng nhận kết hôn ghi Vũ Văn Q, sinh ngày 10/01/1978, anh đã có đơn đề nghị và được UBND xã C, huyện T xác nhận là của cùng một người.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự:
- UBND xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương không phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
- Anh Vũ Văn Q, chị Vũ Thị T có đơn yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân kể từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn nên phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; khoản 6 Điều 3, Điều 8, 10, 11, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149, 370, 371 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm d khoản 2 Điều 11, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận yêu cầu của Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương về việc yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Vũ Văn Q và chị Vũ Thị T.
2. Chấp nhận yêu cầu của Vũ Văn Q, sinh ngày 20/11/1979 chị Vũ Thị T, sinh ngày 23/8/1978: Công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Vũ Văn Q, chị Vũ Thị T; Nơi cư trú: thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương, kể từ thời điểm anh Q đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật là ngày 20 tháng 11 năm 1999.
3. Về lệ phí:
- UBND xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương không phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
- Anh Vũ Văn Q, chị Vũ Thị T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng anh Q, chị T đã nộp theo biên lai số: 0001694 ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Anh Q, chị T đã nộp đủ.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu UBND xã C, huyện T, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đồng thời là người yêu cầu đều vắng mặt, được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày quyết định được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày kể từ ngày ra Quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Thanh Miện; - VKSND tỉnh Hải Dương; - UBND xã Chi Lăng Bắc; - Chi Cục THADS huyện Thanh Miện; - Những người yêu cầu; - Lưu Hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN HỌP Đào Quang Khuyến |