vanban.org

Quyết định 09/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội Tuyên án 29/08/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Bích H: Tuyên bố ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1943, Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 25/4/2021 là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Cử bà Bùi Thị Bích H (là vợ của ông Nguyễn văn T) làm người giám hộ cho ông Nguyễn Văn T. Bà Bùi Thị Bích H có quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ là ông Nguyễn Văn T theo quy định của pháp luật. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Bùi Thị Bích H được miễn lệ phí giả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Tuyên bố ông Nguyễn Văn T là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Bích H: Tuyên bố ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1943, Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 25/4/2021 là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 09 /2023/QĐST-VDSCầu Giấy, ngày 29 tháng 8 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 08 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 105/2023/DSST ngày 18 tháng 07 năm 2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 12/2023/QĐST-DS ngày 22 tháng 08 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

*Người yêu cầu: Bà Bùi Thị Bích H, sinh năm 1955

Địa chỉ: Số 09 H4 Tập thể Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tổ 8, phường D, quận C, Thành phố H. Có mặt

*Người bị yêu cầu: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1943

Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 25/4/2021.

Đăng ký nhân khẩu thường trú: Cùng địa chỉ. Vắng mặt tại phiên họp

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

*Tại Đơn yêu cầu ngày 10/07/2023, bản trình bày, các tài liệu khác có trong hồ sơ, người yêu cầu là bà Bùi Thị Bích H trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn T kết hôn năm 1974 và sinh sống tại địa chỉ số 9 nhà H4 Tập thể trường Đại học Sư phạm, Tổ 26 (nay là tổ 8) phường D, quận C, thành phố H. Chúng tôi có hai người con là Chị Nguyễn Thị T sinh năm 1976 và chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986 - mất năm 2017 lúc chưa có gia đình.

Khi mới kết hôn với bà, ông T hoàn toàn khỏe mạnh, tỉnh táo. Đến năm 1986, ông T phát bệnh với biểu hiện: tinh thần luôn trong trạng thái hoảng hốt, đập phá đồ đạc, quấy rối với các thành viên gia đình, không điều chỉnh được cảm xúc, hành vi, có biểu hiện loạn thần, thi thoảng ngồi nói chuyện lảm nhảm một mình hoặc hò hét inh ỏi gây mất trật tự hàng xóm. Việc Ông Nguyễn Văn T mắc bệnh tâm thần thì toàn cơ quan và hàng xóm sống trong khu Tập thể đều được biết.

Gia đình đã đưa ông T vào Bệnh viện E khám và được kết luận mắc Bệnh tâm thần Phân Liệt. Kể từ đó đến nay ông Nguyễn Văn T liên tục điều trị bệnh tâm thần tại Bệnh viện E và bệnh viện Tâm thần Trung ương, nay vẫn đang tiếp tục điều trị ngoại trú tại nhà và vẫn uống uống thuốc hàng ngày.

Nay bà Bùi Thị Bích H đề nghị Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn T bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và đề nghị chỉ định bà Bùi Thị Bích H là người giám hộ của ông Nguyễn Văn T. Chị Nguyễn Thị T, cùng đề nghị Tòa chỉ định mẹ chị là bà Bùi Thị Bích H là người giám hộ của ông Nguyễn Văn T.

Ngày 19/07/2023 Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy đã có Quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với ông Nguyễn Văn T. Theo Kết luận số 202/KLGĐ ngày 24/08/2023 của Viện pháp y tâm thần Trung ương xác định tại thời điểm giám định đối tượng Nguyễn Văn T bị bệnh Tâm thần phân liệt thể không biệt định. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F20.3. Bệnh ở giai đoạn thuyên giảm. Đối tượng là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

*Đại diện VKSND quận Cầu Giấy tham gia phiên họp trình bày quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, Thẩm phán chủ tọa phiên họp, Thư ký phiên họp và các đương sự đã tuân thủ đầy đủ, đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu của bà Bùi Thị Bích H: Tuyên bố ông Nguyễn Văn T là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Xác định bà Bùi Thị Bích H (là vợ của ông Nguyễn Văn T) là người giám hộ của ông Nguyễn Văn T. Bà Bùi Thị Bích H có quyền và nghĩa vụ theo chỉ định của Tòa án khi làm người giám hộ cho ông Nguyễn Văn T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Văn T có hộ khẩu thường trú tại Số 09 H4 Tập thể Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tổ 8, phường D, quận C, Thành phố H. Căn cứ khoản 1 điều 27, khoản 2 điều 35, điểm a khoản 2 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy có thẩm quyền giải quyết việc yêu cầu.

Về quan hệ pháp luật: Tại Đơn yêu cầu ngày 10/07/2023 bà Bùi Thị Bích H yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn T mất năng lực hành vi dân sự. Căn cứ khoản 1 điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật là Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.

Xét lời trình bày của người yêu cầu, tài liệu xác minh và kết luận của Viện pháp y tâm thần trung ương có cơ sở xác định ông Nguyễn Văn T là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi.

Bà Bùi Thị Bích H có đủ điều kiện về người giám hộ theo quy định tại điều 49 Bộ luật dân sự. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu và chỉ định bà Bùi Thị Bích H là người giám hộ cho ông Nguyễn Văn T.

Bà Bùi Thị Bích H có các quyền và nghĩa vụ theo chỉ định của Tòa án tại các điều 57, 58, 59 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về lệ phí: Bà Bùi Thị Bích H thuộc trường hợp được miễn nộp lệ phí, nên được hoàn lại số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí theo biên lai thu tiền số 0018911 ngày 17/07/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Cầu Giấy.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 22, 47, 49, 54, 57, 58, 59 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 điều 27; khoản 2 điều 35 và các điều 149, 370, 371, 372, 376, 377, 378 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTPQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Bích H: Tuyên bố ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1943, Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 25/4/2021 là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

2. Cử bà Bùi Thị Bích H (là vợ của ông Nguyễn văn T) làm người giám hộ cho ông Nguyễn Văn T. Bà Bùi Thị Bích H có quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ là ông Nguyễn Văn T theo quy định của pháp luật.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Bùi Thị Bích H được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự và được hoàn lại số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí theo biên lai thu tiền số 0018911 ngày 17/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Cầu Giấy.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Cỡ chữ