vanban.org

Quyết định 09/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 09/08/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Lục Văn H.

Tuyên bố: bà Lý Thị H, sinh năm 1962; nơi cư trú cuối cùng: số 59B, đường H, khu 3, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh là đã chết. Ngày chết của bà Lý Thị H là ngày 05 tháng 01 năm 2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Lục Văn H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Lục Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ M

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Số: 09/2023/QĐST-VDS
M, ngày 09 tháng 8 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

“Về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M – TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: ông Nguyễn Thùy Dương

- Thư ký phiên họp: bà Nguyễn Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên họp: ông Cao Đức Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 16/2023/TLST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2023 về việc “yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 07/2023/QĐST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: anh Lục Văn H, sinh năm 1987; nơi thường trú: số 59B, đường H, khu 3, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt tại phiên họp).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Lục Thị Đ, sinh năm 1984; nơi thường trú: số 06, ngõ 112 Y, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có quan điểm xin vắng mặt tại phiên họp).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Lục Văn H thể hiện yêu cầu tuyên bố một người đã chết đối với bà Lý Thị H, sinh năm: 1962; nơi cư trú cuối cùng: số 59B, đường H, khu 3, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.

Ông Lục Kính T, sinh năm 1960 với bà Lý Thị H, sinh năm 1962 là vợ chồng, có hai con chung là chị Lục Thị Đ, sinh năm 1984 và anh Lục Văn H, sinh năm 1987. Năm 1991 ông Lục Kính T bị chết, thì bà H đưa các con ra thành phố M sinh sống, lập nghiệp và có đăng ký thường trú tại: tổ 1, khu 1, phường K (nay là khu 3, phường K), thành phố M. Thời gian sau đó sức khỏe, tinh thần bà H không được tốt, năm 1993 bà H gửi anh H, chị Đ cho em trai chồng là ông Lục Văn T trông nom hộ một thời gian để đi làm ăn xa, từ đó đến nay bà H chưa một lần trở về địa phương thăm các con. Sau nhiều năm tìm kiếm không có kết quả, theo yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Lục Văn H, ngày 19/12/2019, Tòa án nhân dân thành phố M đã tuyên bố bà Lý Thị H mất tích, từ đó đến nay đã hơn 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố bà Lý Thị H mất tích có hiệu lực pháp luật, bà H vẫn chưa trở về địa phương cũng không có tin tức gì của bà H còn sống. Nay anh Lục Văn H đã làm đơn yêu cầu đề nghị tuyên bố bà Lý Thị H là đã chết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lục Thị Đ trong quá trình giải quyết có lời khai phù hợp lời khai của người yêu cầu anh Lục Văn H về mối quan hệ nhân thân giữa ông T, bà H và anh H; đồng thời đồng ý với yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Lý Thị H là đã chết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật, quan điểm giải quyết quyết việc dân sự: về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm mở phiên họp, đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và tư cách tham gia tố tụng của các đương sự.

Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố M áp dụng Điều 71 của Bộ luật dân sự; Điều 370; Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chấp nhận yêu cầu của anh Lục Văn H về việc tuyên bố bà Lý Thị H, sinh năm 1962; nơi cư trú cuối cùng: số 59B, đường H, khu 3, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh là đã chết, xác định ngày chết của bà Lý Thị H là ngày 05/01/2023

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, nhận định:

Về thủ tục tố tụng: anh Lục Văn H có đơn yêu cầu tuyên bố bà Lý Thị H, sinh năm 1962; nơi cư trú cuối cùng: số 59B, đường H, khu 3, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh là đã chết. Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.

Người yêu cầu là anh Lục Văn H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên họp chị Lục Thị Đ vắng mặt đều có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt và giữ nguyên quan điểm, do đó, việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết việc dân sự. Căn cứ quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp vắng mặt anh Hùng, chị Đ.

Về yêu cầu giải quyết việc dân sự: căn cứ nội dung đơn yêu cầu, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự thể hiện: ông Lục Kính T, sinh năm 1960 với bà Lý Thị H, sinh năm 1962 là vợ chồng, có hai con chung là chị Lục Thị Đ, sinh năm 1984 và anh Lục Văn H, sinh năm 1987. Năm 1991 ông Lục Kính T bị chết, thì bà H đưa các con ra thành phố M sinh sống, lập nghiệp và có đăng ký thường trú tại: tổ 1, khu 1, phường Ka Long (nay là khu 3, phường K), thành phố M. Năm 1993 bà H gửi anh H, chị Đ cho em trai chồng là ông Lục Văn T trông nom hộ một thời gian để đi làm ăn xa, từ đó đến nay bà H chưa một lần trở về địa phương thăm các con. Sau nhiều năm tìm kiếm không có kết quả, theo yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Lục Văn H, ngày 19/12/2019, Tòa án nhân dân thành phố đã tuyên bố bà Lý Thị H mất tích. Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố bà H mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là bà H còn sống, nên ngày 08/3/2023, anh Lục Văn H có đơn yêu cầu tuyên bố bà Lý Thị H là đã chết. Tòa án đã tiến hành thụ lý và thực hiện thủ tục đăng tin tìm kiếm theo quy định, tuy nhiên, đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng quyết định thông báo tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức của bà H còn sống. Đối chiếu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của anh Lục Văn H tuyên bố một người là đã chết đối với bà Lý Thị H.

Về xác định ngày chết của bà Lý Thị H: căn cứ khoản 2 Điều 71 và khoản 2 Điều 147 của Bộ luật dân sự, đối với trường hợp bà H là người bị tuyên bố mất tích theo quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 05/2019/QĐST-TBMT, ngày 19/12/2019 của Tòa án nhân dân thành phố M, xác định ngày có hiệu lực là ngày 04/01/2020 mà sau 03 năm vẫn không có tin tức xác thực là bà H còn sống. Do đó, ngày chết của bà Lý Thị H được xác định là ngày 05/01/2023.

Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết theo quy định của pháp luật theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật dân sự.

Về lệ phí việc dân sự: anh Lục Văn H phải nộp lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: đương sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh là phù hợp, có cơ sở nên chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; khoản 1 Điều 149; Điều 370; Điều 371; Điều 372 và Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 71; Điều 72; khoản 2 Điều 147 của Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Lục Văn H.

2. Tuyên bố: bà Lý Thị H, sinh năm 1962; nơi cư trú cuối cùng: số 59B, đường H, khu 3, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh là đã chết.

Ngày chết của bà Lý Thị H là ngày 05 tháng 01 năm 2023.

Khi quyết định có hiệu lực pháp luật, các quan hệ về nhân thân và quan hệ tài sản của bà Lý Thị H được giải quyết như đối với người đã chết.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: anh Lục Văn H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0007773, ngày 28 tháng 3 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố M; anh H đã nộp đủ tiền lệ phí dân sự sơ thẩm.

4. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ