vanban.org

Quyết định 09/2023/QĐCNHGT-DS — Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 31 tháng 7 năm 2023, cụ thể như sau:

Hủy hợp đồng đặt cọc mua đất ngày 17/11/2021 giữa bên nhận cọc là ông Bùi Văn Y và ông Bùi Văn H và bên đặt cọc là ông Đỗ Văn T và bà Lê Thị C. Ông Bùi Văn Y và bà Nguyễn Thị V trả cho ông Đỗ Văn T và bà Lê Thị C số tiền gốc 250.000.000 đồng và tiền lãi 118.500.000 đồng. Tổng công ông Bùi Văn Y và b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng đặt cọc — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng đặt cọc"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 31 tháng 7 năm 2023, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN BẮC
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 09/2023/QĐCNHGT-DSHàm Thuận Bắc, ngày 16 tháng 8 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

Căn cứ các điều 32, 33, 34 và 35 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ vào yêu cầu công nhận kết quả kết quả hòa giải thành của ông Nguyễn Mạnh H( là người đại diện theo ủy quyền ông Đỗ Văn T và bà Lê Thị C) và ông Bùi Văn Y( Ông Y đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông Bùi Văn H, bà Nguyễn Thị V và bà Lê Thị N)

Sau khi nghiên cứu:

- Đơn khởi kiện “ Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” đề ngày 05 tháng 4 năm 2023 của ông Đỗ Văn T và bà Lê Thị C

- Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 31 tháng 7 năm 2023 về việc thỏa thuận giải quyết toàn bộ tranh chấp của các bên tham gia hòa giải sau đây:

*/ Người khởi kiện: Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1968

Bà Lê Thị C, sinh năm 1971

Cùng địa chỉ: Số 445, T, phường L, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng

(Ông T và bà C ủy quyền cho ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1976; Địa chỉ:

138/4, đường C, phường I, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia hòa giải. Theo hợp đồng ủy quyền ngày 06/5/2023)

*/ Người bị kiện: Ông Bùi Văn Y, sinh năm 1963

Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn M, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận

Ông Bùi Văn H, sinh năm 1966

Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận

*/Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị V - sinh năm 1961

Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn M, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận

Bà Lê Thị N, sinh năm 1957

Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận

(Ông H, bà V và bà N ủy quyền cho ông Y tham gia hòa giải. Theo giấy ủy quyền ngày 05/5/2023, 02 hợp đồng ủy quyền ngày 22/7/2023)

- Các tài liệu kèm theo Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Kết quả hòa giải thành được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 31 tháng 7 năm 2023 có đủ các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 31 tháng 7 năm 2023, cụ thể như sau:

- Hủy hợp đồng đặt cọc mua đất ngày 17/11/2021 giữa bên nhận cọc là ông Bùi Văn Y và ông Bùi Văn H và bên đặt cọc là ông Đỗ Văn T và bà Lê Thị C.

- Ông Bùi Văn Y và bà Nguyễn Thị V trả cho ông Đỗ Văn T và bà Lê Thị C số tiền gốc 250.000.000 đồng và tiền lãi 118.500.000 đồng. Tổng công ông Bùi Văn Y và bà Nguyễn Thị V trả cho ông Đỗ Văn T và bà Lê Thị C số tiền 368.500.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Cỡ chữ