vanban.org

Quyết định 09/2023/QĐ-TA

TAND huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 13/12/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Triệu Văn T; sinh ngày 19 tháng 02 năm 1983.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành: Tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng (trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Cao Bằng; địa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Triệu Văn T; sinh ngày 19 tháng 02 năm 1983.
  • Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hàn…; Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 09/2023/QĐ-TANguyên Bình, ngày 13 tháng 12 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH CAO BẰNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Thu Lịch

2. Thư ký phiên họp: Bà Đặng Thị Huê

Ngày 13 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Cao Bằng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 09/2023/QĐ-TA, ngày 06 tháng 12 năm 2023 đối với:

Họ và tên: Triệu Văn T; Tên gọi khác: Không;

Sinh ngày 19 tháng 02 năm 1983;

CCCD số: xxxxxxxxxxxx Ngày cấp: ngày 05/7/2021; Nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội;

Giới tính: Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không;

Trình độ học vấn: 2/9

Nguyên quán: Xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng;

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm P, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng;

Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Tiền sự, tiền án: Không;

Con ông Triệu Quốc Hoa (đã chết) và bà Nông Thị Tư, 62 tuổi;

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Lục Thị Như - Công chức Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N. Có mặt.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N: Ông Lương Ngọc Tân - Kiểm sát viên. Có mặt.

3. Người bị đề nghị: Triệu Văn T. Có mặt.

NHẬN THẤY

Ngày 16 tháng 11 năm 2023, Công an xã M phối hợp với Trạm y tế xã M tiến hành hỏi, xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu đối với Triệu Văn T, cho kết quả (+) dương tính với chất ma túy.

Tại bản tường trình về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 16/11/2023 và biên bản ghi lời khai các ngày 16/11/2023 và 20/11/2023 Triệu Văn T khai đã sử dụng ma túy lần đầu từ năm 2018, loại ma túy sử dụng là Heroine hình thức sử dụng là hít, lần sử dụng gần đây nhất là khoảng đầu tháng 11/2023.

Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 19/11/2023 của Trạm y tế xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng đối với Triệu Văn T; sinh ngày 19 tháng 02 năm 1983. Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm P, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Kết luận (có 3/6 tiêu chuẩn để xác định tình trạng nghiện ma túy tổng hợp).

Như vậy, Thương là người nghiện ma túy, đã bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng sau khi chấp hành xong, tái sử dụng ma túy và tái nghiện. Thương thuộc diện người bị quản lý sau cai nghiện theo Quyết định số 09b/QĐ-UBND ngày 10/2/2023 của UBND xã M. Công an xã M đã tuyên truyền, giải thích về tác hại của ma túy, vận động Thương đăng ký cai nghiện tự nguyện. Tuy nhiên, Thương vẫn tiếp tục sử dụng ma túy. Hành vi của Thương đã vi phạm khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy, “Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện”. Căn cứ khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021. Ủy ban nhân dân xã M, huyện N lập hồ sơ chuyển đến Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện N xem xét đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Triệu Văn T.

Căn hồ sơ đề nghị của UBND xã M, huyện N. Ngày 28 tháng 11 năm 2023, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N đã lập công văn đề nghị số: 09/ĐN-CNBB ngày 28/11/2023. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Cao Bằng, xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Triệu Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng (địa chỉ: Tổ 6, phường Sông Hiến, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng).

Ý kiến của cơ quan đề nghị: Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N phát biểu: Triệu Văn T là đối tượng nghiện ma túy, sử dụng ma túy từ năm 2018, đã từng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đã chấp hành xong tháng 02 năm 2023, thuộc diện người bị quản lý sau cai nghiện nhưng sau đó tái sử dụng ma túy và tái nghiện, lần sử dụng ma túy gần đây nhất là đầu tháng 11/2023 và bị Công an xã M, huyện N lập biên bản vi phạm hành chính. Như vậy Triệu Văn T là người nghiện ma túy nhưng trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy tái nghiện, vi phạm khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021. Triệu Văn T có địa chỉ và chỗ ở ổn định tại: Xóm P, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng lao động Thương binh và Xã hội đề nghị xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Triệu Văn T trong thời gian từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên họp:

- Việc tuân theo pháp luật: Từ khi Tòa án nhân dân huyện N thụ lý hồ sơ đền khi xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đã ra thông báo về việc thụ lý, ra quyết định phân công thẩm phán, phân công thư ký đúng quy định đúng theo mẫu số 01 ban hành nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015, đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 3 pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia phiên họp: Thẩm phán và Thư ký phiên họp đã thực hiện đúng quy định quy định về trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định tại Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022.

- Đại diện Viện kiểm sát nhất trí với ý kiến đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N đối với người bị đề nghị Triệu Văn T: Thương là đối tượng nghiện, sử dụng ma túy từ năm 2018, loại ma túy Thương sử dụng là Heroine, sử dụng bằng hình thức hít vào cơ thể, lần gần nhất sử dụng là đầu tháng 11/2023. Công an xã M đã phối hợp với Trạm y tế xã M tiến hành hỏi, xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu đối với Triệu Văn T, cho kết quả (+) dương tính với chất ma túy. Thương là người nghiện ma túy, đã từng bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc, sau khi chấp hành xong, thuộc diện người bị quản lý sau cai nghiện, nhưng tái sử dụng ma túy và tái nghiện, đã được các cán bộ Công an xã M giải thích về việc đăng ký cai nghiện tự nguyện nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện mà tiếp tục sử dụng ma túy và tái nghiện, vi phạm khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021, “Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện”. Căn cứ khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021. Công an xã M, huyện N đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với Thương. Ủy ban nhân dân xã M, huyện N lập hồ sơ chuyển đến Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện N xem xét đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Triệu Văn T. Thương có địa chỉ và cư trú ổn định, có mặt tại địa phương. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Triệu Văn T đã được cơ quan chức năng thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục đã được quy định tại các Điều 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật xử lý vi phạm hành chính số 67/2020/QH14 được Quốc Hội thông qua ngày 13/11/2020 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2022; khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021; Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quan lý sau cai nghiện ma túy.

Căn cứ các Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; đề nghị Tòa án nhân dân huyện N xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Triệu Văn T, thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng.

Ý kiến của người bị đề nghị: Người bị đề nghị Triệu Văn T nhận thức được tác hại của ma túy, nhất trí đi cai nghiện nhưng xin được đi cai nghiện trong thời gian ngắn nhất.

Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và sau khi nghe ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, ý kiến của người bị đề nghị.

XÉT THẤY

Xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Triệu Văn T đã được cơ quan chức năng thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục đã được quy định tại các Điều 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật xử lý vi phạm hành chính số 67/2020/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2020 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2022 và các Điều 40; 41; 42 và Điều 43 Nghị định số 116/2021 ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định một số Điều về luật phòng, chống ma túy, và xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, về độ tuổi, tình trạng cư trú và lời khai nhận của người bị đề nghị có đủ cơ sở pháp lý kết luận:

Triệu Văn T có đủ năng lực trách nhiệm hành vi hành chính, nhận thức rõ tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Triệu Văn T không những ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân mà còn làm suy kiệt về kinh tế gia đình, góp phần làm gia tăng các tệ nạn xã hội, các hành vi tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy ở địa phương, vi phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Về nhân thân: Thương là người nghiện ma túy, sử dụng ma túy từ năm 2018, loại ma túy Thương sử dụng là Heroine, sử dụng bằng hình thức hít vào cơ thể, lần gần nhất sử dụng là đầu tháng 11/2023. Thương nghiện ma túy, đã từng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong đầu năm 2023 Thương thuộc diện quản lý sau cai nghiện theo Quyết định số 09b/QĐ-UBND ngày 10/2/2023 của UBND xã M. Công an xã M đã tuyên truyền, giải thích về tác hại của ma túy, vận động Thương đăng ký cai nghiện tự nguyện. Tuy nhiên, Thương vẫn tiếp tục sử dụng và tái nghiện ma túy. Hành vi của Thương đã vi phạm khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy, “Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện”. Tại Biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu cho kết quả Triệu Văn T (+) dương tính với chất ma túy, Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện của Trung tâm y tế xã M có 3/6 tiêu chuẩn đánh giá tình trạng nghiện. Kết luận Triệu Văn T nghiện ma túy tổng hợp, đã bị Công an xã M, huyện N đã lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định của khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021,“Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện”.

- Về tình tiết tăng nặng: Không

- Về tình tiết giảm nhẹ: Không

Triệu Văn T có nơi cư trú ổn định, là người nghiện ma túy, đã chấp hành xong biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thuộc diện người bị quản lý sau cai nghiện nhưng trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy tái nghiện, vi phạm khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021, đã được thông báo về việc lập hồ sơ cai nghiện bắt buộc và không có ý kiến gì.

Do vậy đề nghị của Phòng lao động Thương binh - Xã hội huyện N và ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện N là có căn cứ nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ Điều 3, Điều 20, Điều 21, Điều 23, Điều 24, Điều 31, Điều 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ các Điều 95, Điều 96, Điều 105, Điều 106 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012;

Căn cứ Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật xử lý vi phạm hành chính số: 67/2020/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2020 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2022;

Căn cứ khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021; Nghị định 116/2021 của Chính phủ ngày 21/12/2021 quy đinh một số Điều về Luật phòng, chống ma túy; Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quan lý sau cai nghiện ma túy;

Căn cứ Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Triệu Văn T; sinh ngày 19 tháng 02 năm 1983. Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm P, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Nơi chấp hành: Tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng (trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Cao Bằng; địa chỉ: Tổ 6, phường Sông Hiến, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng).

3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện N có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định ngày 13/12/2023.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N, tỉnh Cao Bằng và Công an huyện N, tỉnh Cao Bằng.

Cỡ chữ