vanban.org

Quyết định 09/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định Tuyên án 04/11/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Trần Văn T.

Tuyên bố ông Trần Văn N, sinh năm 1950, nơi cư trú trước khi biệt tích: Xóm N, xã V, huyện T, tỉnh Nam Định là người đã chết. Ngày chết của ông Trần Văn N là ngày 01/01/1983. Quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của ông Trần Văn N được thực hiện theo quy định t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "T - N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Trần Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 391 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 392 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRỰC NINH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 09/2022/QĐST-VDSTrực Ninh, ngày 04 tháng 11 năm 2022.

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Chu Thái Hà.

Thư ký phiên họp: Bà Trần Thanh Hiếu - Thư ký TAND huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Quỳnh Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày04tháng11năm 2022, tại trụ sở TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự T lý số 07/2022/TLST-VDS ngày 13 tháng 06 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 07/2022/QĐST-VDS ngày 27 tháng 10 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Trần Văn T, Sinh năm 1948, nơi cư trú: Xóm N, xã V, huyện T, tỉnh Nam Định.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn N, sinh năm 1950, nơi cư trú cuối cùng: Xóm N, xã V, huyện T, tỉnh Nam Định.

Bà Trần Thị H, sinh năm 1951 - Địa chỉ: Xóm N, xã V, huyện T, tỉnh Nam Định.

Bà Trần Thị M - Địa chỉ: Xóm Q, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.

Bà Trần Thị M1 - Địa chỉ: Xóm N, xã V, huyện T, tỉnh Nam Định.

Tại phiên họp: Ông T có đơn xin xét xử vắng mặt. Bà H, M, M1 vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu, tại bản tự khai, người yêu cầu là ông Trần Văn T trình bày:

Năm 1977 em trai ông là ông Trần Văn N, do điều kiện kinh tế khó khăn nên ông N đã đi làm ăn xa và từ đó mất liên lạc với gia đình. Gia đình ông đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có kết quả. Nay ông đề nghị TAND huyện Trực Ninh tuyên bố ông Trần Văn N, sinh năm 1950, nơi cư trú trước khi biệt tích: Xóm N, xã V, huyện T, tỉnh Nam Định là đã chết để gia đình ông thực hiện thủ tục chia di sản thừa kế theo quy định pháp luật.

Tại bản tự khai của bà Trần Thị Đ, bà Trần Thị T, ông Trần Văn L là em gái, em trai ruột của ông Trần Văn N trình bày:

Các ông bà đều xác nhận ông Trần Văn N đã bỏ nhà đi từ năm 1977 đến nay không có tin tức gì. Nay ông Trần Văn T có đơn yêu cầu TAND huyện Trực Ninh tuyên bố ông Trần Văn N là đã chết. Các ông bà đề nghị Tòa án xem xét giải quyết yêu cầu của ông T theo quy định pháp luật.

Đại diện VKSND huyện Trực Ninh tại phiên họp có quan điểm đề nghị:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, xác minh sự vắng mặt của ông N tại địa phương, thông báo tìm kiếm ông N trên các phương tiện thông tin đại chúng đảm bảo các quy định của pháp luật. Việc Tòa án quyết định mở phiên họp vào ngày 04 tháng 11 năm 2022 đúng thời hạn theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự đúng quy định tại Điều 70 BLTTDS.

Việc Tòa án vẫn tiến hành phiên họp khi người yêu cầu có đơn xin vắng mặt và những người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt là đúng quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 367 BLTTDS.

Căn cứ các Điều 71; 72 BLDS, Điều 391; 392; 393 BLTTDS: Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn T về việc yêu cầu tuyên bố ông Trần Văn N đã chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện VKSND huyện Trực Ninh tại phiên họp, TAND huyện Trực Ninh nhận định:

Về tố tụng: Ông Trần Văn N là người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết có nơi cư trú cuối cùng tại Xóm N, xã V, huyện T, tỉnh Nam Định nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Trần Văn T là anh trai của ông Trần Văn N nên ông T là nguời có quyền yêu cầu tuyên bố ông N là đã chết theo quy định tại Điều 391 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung yêu cầu Tòa án giải quyết:

Năm 1977 ông Trần Văn N có đi làm ăn xa và từ đó mất liên lạc với gia đình. Gia đình ông T đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có kết quả. Nay ông T đề nghị TAND huyện Trực Ninh tuyên bố ông Trần Văn N là đã chết để gia đình ông thực hiện thủ tục chia di sản thừa kế của bố mẹ để lại theo quy định pháp luật.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu của ông T, TAND huyện Trực Ninh đã ra quyết định thông báo tìm ông N trên các phương tiện thông tin đại chúng. Cụ thể là Đài tiếng nói Việt Nam, báo Công Lý, Cổng thông tin điện tử của TAND tỉnh Nam Định. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát đầu tiên thông báo tìm kiếm của Tòa án nhưng vẫn không có tin tức gì của ông N.

Chính quyền địa phương cũng cho biết ông N đã đi biệt tích khỏi địa phương từ khoảng năm 1977, địa phương cũng không biết hiện nay ông N ở đâu.

Các em ông N là bà Trần Thị T; Bà Trần Thị Đ; Ông Trần Văn L và vợ của ông N là bà Trần Thị H cũng xác nhận nội dung nêu trên.

Ông N đã biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống. Do vậy việc ông Trần Văn T có đề nghị tuyên bố ông N là đã chết phù hợp với các quy định tại các điều 68; 71; 72; 146 BLDS và các điều 391; 392; 393 của BLTTDS là có căn cứ, được Tòa án chấp nhận.

Về thời điểm xác định ông Trần Văn N biệt tích: Theo ông T trình bày và qua xác minh tại chính quyền địa phương và các tài liệu có trong hồ sơ thì ông N bỏ nhà đi khỏi địa phương từ khoảng năm 1977. Căn cứ Điều 68, điểm d khoản 1 điều 71 của BLDS thời điểm ông N biệt tích được xác định là ngày 01/01/1978. Do đó ngày chết của ông N là ngày 01/01/1983.

Về hậu quả pháp lý của việc ông Trần Văn N bị tuyên bố là đã chết: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố ông N đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân và gia đình, các quan hệ nhân thân khác, quan hệ về tài sản của ông N được giải quyết như đối với người đã chết, tài sản của ông N được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Trần Văn T phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 68; 71; 72;146 của Bộ luật dân sự; Điều 391; 392; 393 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng về án phí và lệ phí Toà án:

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Trần Văn T.

Tuyên bố ông Trần Văn N, sinh năm 1950, nơi cư trú trước khi biệt tích: Xóm N, xã V, huyện T, tỉnh Nam Định là người đã chết. Ngày chết của ông Trần Văn N là ngày 01/01/1983.

2. Quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của ông Trần Văn N được thực hiện theo quy định tại Điều 72 Bộ luật Dân sự.

3. Lệ phí: Ông Trần Văn T phải nộp 300.000 đồng. Được trừ vào khoản đã nộp tạm ứng lệ phí 300.000đ nộp tại biên lai thu số 0002001 ngày 13 tháng 06 năm 2022 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định (ông T đã nộp xong lệ phí dân sự sơ thẩm).

4. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định giải quyết việc dân sự hoặc quyết định giải quyết việc dân sự được tống đạt hợp lệ.

VKSND huyện Trực Ninh có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, VKSND cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định giải quyết việc dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo các Điều 6, Điều7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ