vanban.org

Quyết định 09/2022/QĐST-THADS — Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng

TAND huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 15/09/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc.

Miễn nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách Nhà nước cho Phạm Văn T, sinh năm 1981. Địa chỉ: thôn C, xã C, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Số tiền được miễn là: 2.500.000đồng. (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng — án dân sự — "QĐ xét miễn thi hành án dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc.
  • Căn cứ chính? Điều 61 Luật Thi hành án dân sự; Điều 62 Luật Thi hành án dân sự; Điều 63 Luật Thi hành án dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Tỉnh Thanh Hóa

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:09/2022/QĐST-THADSHậu Lộc, ngày 15 tháng 9 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Miễn nghĩa vụ thi hành án dân sự

đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA

Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Cao Thị Nga.

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Chuyên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thuỵ Cầm – Kiểm sát viên.

Đại diện Chi cục Thi hành án huyện Hậu Lộc: Bà Phạm Thị Dung - Chấp hành viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá mở phiên họp xét miễn nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách Nhà nước, theo hồ sơ thụ lý số 09/2022/TLST-THADS ngày 07/9/2022; Quyết định mở phiên họp số 09/2022/QĐST ngày 07 tháng 9 năm 2022 đối với người phải thi hành án:

Họ và tên: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1981 .

Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Các khoản tiền người phải thi hành án phải thi hành bao gồm: Án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, phạt sung công 3.000.000 đồng. Tổng cộng là 3.200.000 đồng.

Người phải thi hành đã thi hành được: Án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, phạt sung công 500.000 đồng. Tổng 700.000 đồng, số tiền còn lại phải thi hành 2.500.000 đồng.

NHẬN THẤY:

[1]. Theo bản án hình sự sơ thẩm số 74/2014/HSST ngày 24 tháng 12 năm 2014 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá; Quyết định thi hành án chủ động số 78/QĐ-CCTHADS ngày 16 tháng 3 năm 2015 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa đối với Phạm Văn T, sinh năm 1981. Địa chỉ: thôn C, xã C, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; với khoản thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và tiền phạt sung công quỹ Nhà nước là 3.000.000 đồng. Tổng 3.200.000 đồng (Ba triệu hai trăm nghìn đồng).

Sau khi có Quyết định thi hành án, ông Phạm Văn T đã thi hành được 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số AA/2011/01706 ngày 24/12/2014 và 500.000 đồng tiền phạt sung công theo Biên lai thu tiền số AB/2013/03488 ngày 16/12/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc. Tổng số tiền đã thi hành là 700.000 đồng, số tiền còn lại phải thi hành tiếp là 2.500.000 đồng. (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Biên bản xác minh ngày 17 tháng 8 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc, qua xác minh tại gia đình và địa phương thể hiện: Phạm Văn T là con ông Phạm Văn T (đã chết) và Đỗ Thị S, có vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1987 và có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2012. Phạm Văn T và vợ là lao động tự do, không có việc làm ổn định, thu nhập chỉ đủ chi phí sinh hoạt hàng ngày, hoàn cảnh gia đình khó khăn, cả hai vợ chồng và các con đang sống chung cùng với mẹ đẻ là bà Đỗ Thị S trong ngôi nhà cấp bốn là tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bố mẹ Phạm Văn T, T không đóng góp công sức xây dựng tài sản này, trên địa bàn xã C, huyện H Phạm Văn T không có tài sản nào là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, tài sản có giá trị để bảo đảm cho việc thi hành án. Xác minh ngày 18 tháng 8 năm 2022, tại Văn phòng đăng ký đất đai huyện Hậu Lộc: Phạm Văn T không đứng tên đăng ký, đứng tên sở hữu bất kỳ tài sản nào là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn huyện Hậu Lộc.

Tại Công văn số 443/CC-THADS ngày 22/8/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc đề nghị Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc xem xét và đề nghị xét miễn nghĩa vụ thi hành án đối với Phạm Văn T.

Tại Công văn số 03/VKSHL ngày 24/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc gửi Chi cục thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc chuyển hồ sơ cho Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc đề nghị xét miễn nghĩa vụ thi hành án khoản tiền sung công quỹ nhà nước cho Phạm Văn T.

[2]. Ngày 26/8/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc có Công văn số 03/VKSHL về việc xét miễn khoản thu nộp Ngân sách nhà nước. Qua kiểm sát hồ sơ thi hành án theo quyết định thi hành án số 78/QĐ-THA ngày 16/3/2015 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc về nghĩa vụ thi hành án khoản tiền phạt sung quỹ nhà nước đối với Phạm Văn T. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc thấy rằng Phạm Văn T đủ điều kiện miễn nghĩa vụ thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 61; Điều 62 Luật thi hành án dân sự và Thông tư liên tịch số 12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 15 tháng 9 năm 2015 Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Tại phiên họp, đại diện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc giữ nguyên đề nghị xét miễn nghĩa vụ thi hành án cho Phạm Văn T số tiền 2.500.000đồng. (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Trên cơ sở xem xét các tài liệu có trong hồ sơ và đề nghị của đại diện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc;

XÉT THẤY

Hồ sơ đề nghị xét miễn nghĩa vụ thi hành án đối với khoản tiền phạt sung công quỹ nhà nước của ông Phạm Văn T đã đầy đủ, được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Sau khi có Quyết định thi hành án lần đầu, ông Phạm Văn T đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách Nhà nước với số tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và 500.000 đồng tiền phạt sung công quỹ nhà nước. Tổng số tiền đã nộp là 700.000 đồng. Hiện nay, ông Phạm Văn T không có việc làm ổn định, thu nhập chỉ đủ chi phí sinh hoạt hàng ngày, hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có tài sản có giá trị để bảo đảm cho việc thi hành án. Đến nay đã hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại ông Phạm Văn T phải thi hành có giá trị dưới 5.000.000đồng, Phạm Văn Tư chưa được xét giảm nghĩa vụ thi hành án lần nào.

Như vậy, đề nghị xét miễn nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách Nhà nước với số tiền là 2.500.000 đồng cho ông Phạm Văn T mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc đã đề nghị là có căn cứ, cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2,5 Điều 61; Điều 62, 63, 64 Luật thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi bổ sung năm 2014;

Căn cứ Điều 4; Điều 5; Điều 6; Điều 7; Điều 8; Điều 9 và Điều 10 Thông tư liên tịch số 12/2015/TTLT-BTP-BTC- VKSNDTC-TANDTC ngày 15 tháng 9 năm 2015 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu, nộp ngân sách Nhà nước.

1. Chấp nhận toàn bộ đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc.

2. Miễn nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách Nhà nước cho Phạm Văn T, sinh năm 1981. Địa chỉ: thôn C, xã C, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

3. Số tiền được miễn là: 2.500.000đồng. (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

4. Chi cục thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá và ông Phạm Văn T có trách nhiệm thi hành quyết định này.

5. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát quy định tại khoản 1 Điều 64 Luật Thi hành án dân sự mà Viện kiểm sát không kháng nghị.

Cỡ chữ