- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Phạm Thị H:
- Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 09/2022/QĐST-DS | Quận N, ngày 27 tháng 9 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ H
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Minh T.
Thư ký phiên họp: Ông Phạm Đức H - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố H tham gia phiên họp: Bà Đoàn Thị Hồng N - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận N, thành phố H mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 16/2022/TLST-DS ngày 06 tháng 4 năm 2022 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với ông Phạm Hữu H, sinh năm 1957; nơi cư trú Số 263 đường L, phường Đ, quận N, thành phố H theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 131/2022/QĐST-DS ngày 15 tháng 9 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị H; nơi cư trú: Số 263 đường Lạch Tray, phường Đằng Giang, quận N, thành phố H; có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Ông Phạm Hữu H có bố đẻ là ông Phạm Hữu T (đã mất năm 1999) và mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị X (đã mất năm 1999). Ông T và bà X sinh được 06 người con nhưng 03 người đã chết. Hiện tại ông H còn chị gái là bà Phạm Thị H và bà Phạm Thị H
Khi sinh ra, ông Phạm Hữu H sức khỏe bình thường từ nhỏ đến lớn, được gia đình cho ăn học. Ông H học lớp 7 thì nghỉ học đi làm thợ nề (phụ xây). Đến khoảng năm 1975, ông H bắt đầu mắc bệnh; cả ngày lẩn thẩn, tự chửi bản thân mình, cho rằng mình ngu dốt. Ông Phạm Hữu H được có biểu hiện tiếp xúc không hợp tác, hành vi kỳ dị, không có phản xạ bệnh lý; không phân biệt được không gian, thời gian. Về mặt cảm xúc, khí sắc hằn học, cảm xúc khô tạnh, ngôn ngữ nghèo nàn, không có nhu cầu tiếp xúc với những người xung quanh. Bà H đã đưa ông H khám và điều trị tại Bệnh viện tâm thần H và được chẩn đoán bị suy nhược, tâm thần phân liệt F20.5, tiên lượng xấu. Trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày không chủ động, không biết giữ vệ sinh sạch sẽ, ở đâu cũng nằm, không biết nấu nướng, không biết tự ăn uống. Ông H không có vợ, con; hiện đang ở cùng hai chị gái là bà H và bà Hưng (cũng đang bị bệnh) tại số 263 đường Lạch Tray, phường Đằng Giang, quận N, thành phố H. Mọi sinh hoạt, vệ sinh cá nhân hàng ngày của ông H do bà H trực tiếp chăm sóc.
Do ông H không nhận thức và không điều khiển được hành vi của mình nên chị gái là bà Phạm Thị H yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Hữu H mất năng lực hành vi dân sự.
Về lệ phí: Bà Phạm Thị H có đơn đề nghị xin được miễn nộp tạm ứng lệ phí và lệ phí dân sự do bà H là người cao tuổi (hiện nay bà H 75 tuổi).
Tại phiên họp, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố H phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã thụ lý việc dân sự theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 22 Bộ luật Dân sự, căn cứ vào Kết luận giám định sức khỏe tâm thần của Viện Pháp y Tâm thần Trung ương cần chấp nhận yêu cầu của bà H, tuyên bố ông Phạm Hữu H mất năng lực hành vi dân sự. Căn cứ vào khoản 1 Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà H là người cao tuổi nên được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận N, thành phố H nhận định:
- Về yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự:
Bà Phạm Thị H có em trai là ông Phạm Hữu H, sinh năm 1957. Khi sinh ra, sức khỏe của ông H bình thường. Đến năm 1975 ông H bị bệnh, cả ngày lẩn thẩn, tự chửi bản thân mình, không giao tiếp với ai, sức khỏe gầy gò, óm yếu, ăn mặc lôi thôi, trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày không chủ động, không hiểu người khác nói gì và không nhận thức được mọi việc xung quanh… Mọi sinh hoạt hàng ngày của ông H đều do gia đình và bà H chăm sóc. Ông Phạm Hữu H không thể nhận thức, không làm chủ được hành vi của mình. Hiện nay, bà H cùng em gái là bà Hưng (cũng bị bệnh) và em trai là ông H sống chung tại địa chỉ số 263 đường Lạch Tray, phường Đằng Giang, quận N, thành phố H
Bà Phạm Thị H có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố ông Phạm Hữu H mất năng lực hành vi dân sự. Ngày 06/4/2022 Toà án nhân dân quận N, thành phố H đã thụ lý việc dân sự yêu cầu tuyên bố ông Phạm Hữu H mất năng lực hành vi dân sự và đã ra Quyết định trưng cầu giám định trưng cầu Viện Pháp y Tâm thần Trung ương thực hiện giám định năng lực hành vi dân sự của ông Phạm Hữu H.
Tòa án nhân dân quận N, thành phố H đã nhận được Văn bản ghi nhận quá trình Giám định sức khỏe tâm thần theo trưng cầu số 183/VBGNQTGĐ ngày 03/8/2022 và Kết luận Giám định sức khỏe tâm thần theo trưng cầu số 183/KLGĐ ngày 03/8/2022 của Viện Pháp y Tâm thần Trung ương . Tại các văn bản này đều kết luận: “Tại thời điểm giám định đối tượng Phạm Hữu H bị bệnh Tâm thần phân liệt thể di chứng. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F20.5. Đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.
Như vậy, đủ cơ sở kết luận ông Phạm Hữu H bị bệnh tâm thần phân liệt thể di chứng không thể nhận thức, điều khiển được hành vi của mình. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị H về việc tuyên bố ông Phạm Hữu H mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 22 Bộ luật Dân sự.
- Về lệ phí:
Bà Phạm Thị H là người cao tuổi nên được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 22 của Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39; khoản 1 Điều 149; các điều 367; 369; 370; 371; 372; 376; 377; 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Phạm Thị H:
Tuyên bố ông Phạm Hữu H, sinh năm 1957; nơi cư trú Số 263 đường Lạch Tray, phường Đằng Giang, quận N, thành phố H mất năng lực hành vi dân sự.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:
Bà Phạm Thị H được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Bà Phạm Thị H được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố H có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định.
4. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; - VKSND quận N; - Chi cục THADS quận N; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DẤN SỰ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Minh T |