vanban.org

Quyết định 09/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND huyện Bến Lức, tỉnh Long An Tuyên án 22/07/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ: khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 các Điều 35 và Điều 39; Điều 149; các Điều 367, 369, 370, khoản 1 Điều 376 và 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ: khoản 1 Điều 22; điểm c khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 51, và Điều 53 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Võ Thị Kim T "Yêu cầu tuyên bố một người mất NLHVDS""
  • Tòa quyết gì? Căn cứ: khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 các Điều 35 và Điều 39; Điều 149; các Điều 367, 369, 370, khoản 1 Điều 376 và 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN LỨC
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 09/2022/QĐST-DSBến Lức, ngày 22 tháng 7 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC - TỈNH LONG AN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Cao Thị Thới.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Lan Chi – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 140/2022/TLST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 09/2022/QĐST-DS ngày 06 tháng 7 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Võ Thị Kim T, sinh năm 1962.

Địa chỉ: Khu phố 8, thị trấn B, huyện B, tỉnh L.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Phạm Thị Thu S, sinh năm 1984.

2. Anh Phạm Hồng Q, sinh năm 1988.

3. Anh Phạm Hồng T, sinh năm 1990.

4. Chị Phạm Thị Hồng N, sinh năm 1992.

Cùng địa chỉ: Khu phố 8, thị trấn B, huyện B, tỉnh L.

(Các đương sự có mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Bà Võ Thị Kim T và ông Phạm Hồng S xác lập quan hệ hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn B, huyện B. Vợ chồng chung sống có các con chung tên: Phạm Thị Thu S, sinh năm 1984, Phạm Thị Thu H, sinh năm 1986, Phạm Hồng Q, sinh năm 1988, Phạm Hồng T, sinh năm 1990, Phạm Thị Hồng N, sinh năm 1992.

Đến năm 2001, thì ông S phát bệnh và chết theo giấy chứng tử số 57, quyển số 01 ngày 23/8/2002. Bà T xác định Phạm Thị Thu H từ lúc 09 tuổi bị động kinh, chậm phát triển tâm thần mức độ trung bình, suy nhược cơ thể, không có khả năng lao động và không có khả năng tự lo sinh hoạt hàng ngày. Đồng thời, Phạm Thị Thu H được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy xác nhận khuyết tật ngày 20/6/2013.

Do chị H đang đứng tên thửa đất số 110, tờ bản đồ số 134, diện tích 98,10m2, đất tọa lạc tại thị trấn B, huyện B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 771053 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 17/8/2017, bà muốn làm thủ tục tặng cho thửa đất cho chị Phạm Thị Hồng N là em ruột của chị H để có trách nhiệm nuôi dưỡng cho chị H sau này nên bà T làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố Phạm Thị Thu H là người mất năng lực hành vi dân sự.

Ngày 17/6/2022, Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Kết luận giám định pháp y tâm thần số 2261/BBGNQTGĐ kết luận: Đương sự bị động kinh, chậm phát triển tâm thần, mức độ nặng (G40/F72-ICD10) và mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại phiên họp, bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố Phạm Thị Thu H là một người mất năng lực hành vi dân sự và các con của bà T đều thống nhất xác định mọi giao dịch dân sự của chị H do bà T thực hiện. Ngoài ra, bà T không còn yêu cầu nào khác.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức căn cứ vào khoản 1 Điều 27, khoản 1 Điều 376, 378 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bến Lức quyết định chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị Kim T về việc tuyên bố Phạm Thị Thu H, sinh năm 1986. Địa chỉ: Khu phố 8, thị trấn B, huyện B, tỉnh L, là một người mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Toà án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bà Võ Thị Kim T yêu cầu tuyên bố Phạm Thị Thu H là một người mất năng lực hành vi dân sự. Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Về yêu cầu của đương sự:

Theo giấy khai sinh của Phạm Thị Thu H đã khai tại UBND thị trấn B, thì ông Phạm Hồng S và bà Võ Thị Kim T là cha mẹ của chị H.

Ngày 17/6/2022, Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Kết luận giám định pháp y tâm thần số 2261/BBGNQTGĐ kết luận: Đương sự bị động kinh, chậm phát triển tâm thần, mức độ nặng (G40/F72-ICD10) và mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Xét thấy: Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện việc giám định cho chị H đúng các thủ tục do pháp luật quy định. Căn cứ vào khoản 1 Điều 22 của Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có đủ căn cứ xác định chị H là một người mất năng lực hành vi dân sự và tại phiên họp Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức phát biểu quan điểm giải quyết việc dân sự là chấp nhận yêu cầu của bà T. Mọi giao dịch dân sự của chị Phạm Thị Thu H phải do người đại diện theo pháp luật là bà Võ Thị Kim T xác lập, thực hiện.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Võ Thị Kim T thuộc đối tượng được miễn nên không phải chịu.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 các Điều 35 và Điều 39; Điều 149; các Điều 367, 369, 370, khoản 1 Điều 376 và 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ: khoản 1 Điều 22; điểm c khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 51, và Điều 53 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Võ Thị Kim T.

Tuyên bố Phạm Thị Thu H, sinh năm 1986. Địa chỉ: Khu phố 8, thị trấn B, huyện B, tỉnh L, là một người mất năng lực hành vi dân sự kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật.

Mọi giao dịch dân sự của chị Phạm Thị Thu H phải do người đại diện theo pháp luật là bà Võ Thị Kim T xác lập, thực hiện.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Võ Thị Kim T thuộc đối tượng được miễn nên không phải chịu.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ