vanban.org

Quyết định 09/2022/QĐST-DS — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Phạm Thành Đ.

Tuyên bố ông Phạm Văn M, sinh năm 1937; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Số 139 đường T, Tổ 38, Khu phố 3 (số cũ K4/B54 và số 22 đường T, Tổ 38, Khu phố 4), phường T, thành phố M, tỉnh Bình Dương mất tích từ năm 1995. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Thành Đ nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thành Đ - Phạm Văn M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Phạm Thành Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 155 Bộ luật Dân sự; Điều 25 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 09/2022/QĐST-DSThủ Dầu Một, ngày 28 tháng 6 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

(Về việc Tuyên bối một người mất tích)

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Thanh Bình

Thư ký phiên họp: Ông Hoàng Văn Quyết

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2022/TLST-DS ngày 06 tháng 01 năm 2022 về việc tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 11/2022/QĐST-VDS ngày 21 tháng 6 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Thành Đ, sinh năm 1968; địa chỉ: Số K5/58 đường số 3, Tổ 56, Lô D, KDC T1, phường T, thành phố M, tỉnh Bình Dương, có mặt.

- Người có liên quan đến việc giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Văn M, sinh năm 1937; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Số 139 đường T, Tổ 38, Khu phố 3 (số cũ K4/B54 và số 22 đường T, Tổ 38, Khu phố 4), phường T, thành phố M, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Ông Phạm Thành Đ là con ruột của ông Phạm Văn M và bà Nguyễn Thị L. Cha mẹ ông Đ có tất cả 06 người con là ông Phạm Thành P, sinh năm 1961, bà Phạm Thị Ánh L, sinh năm 1963, bà Phạm Thị Ánh T, sinh năm 1966, bà Phạm Thành T, sinh năm 1970, ông Phạm Thành T, sinh năm 1972, và ông Phạm Thành Đ.

Trước khi mất tích, ông Phạm Văn M làm tài xế cho Phân khu cầu đường tỉnh Sông Bé. Năm 1993, ông M nghỉ hưu. Năm 1995, ông M bị mất trí nhớ, sau đó bỏ nhà đi đâu không rõ. Khi đi, ông M có mang theo quần áo, giấy tờ tùy thân của ông M. Hiện tại, gia đình chỉ còn duy nhất bằng lái xe của ông M nhưng bằng này hết hạn sử dụng. Sau khi phát hiện ông M bỏ nhà đi, ông Đ và gia đình đã đi tìm kiếm ông M nhiều nơi của tỉnh Sông Bé như: Bến Cát, Lai Khê, Chơn Thành, Minh Thành, Bình Long, Lộc Ninh, Nha Bích, Thanh Tuyền, Bến Súc, Dầu Tiếng, Lái Thiêu, Thuận Giao và tỉnh Tây Ninh nhưng không tìm thấy được. Gia đình ông Đ tổ chức đi tìm kiếm ông M trong vòng 5 năm từ năm 1995 - 2000 thì không đi tìm nữa. Trong thời gian tìm kiếm ông M, ông Đ có gửi hình ảnh của ông M nhờ bạn bè tìm kiếm giúp nhưng không có kết quả. Gia đình ông Đ nghe tin ông M ở đâu là lập tức đi đến đó nhưng không tìm thấy.

Ngoài ra, năm 1996, gia đình ông Đ cũng có đăng tin tìm kiếm ông M trên Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Sông Bé nhưng cũng không tìm kiếm được. Ngoài lần đăng tin đó đến nay thì gia đình ông Đ không có đăng thêm tin tìm kiếm ông M trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Mục đích của ông Đ yêu cầu Tòa án tuyên bố ông M mất tích để ông Đ và gia đình làm lại thủ tục phân chia thừa kế tài sản trong gia đình.

Ông Đ giao nộp các tài liệu, chứng cứ sau: CMND, hộ khẩu của ông Đ, bà Lớn (bản chứng thực); Đơn xin xác nhận ngày 13/12/2021 của ông Phạm Thành Đ có xác nhận của Công an phường T (bản chính); Giấy xác nhận ngày 14/12/2021 của ông Huỳnh Ngọc B, ông Nguyễn Đình T, ông Trần Văn H có xác nhận của ông Nguyễn Văn H - Phó Khu phố 3 phường T (bản chính); Giấy chứng nhận hộ khẩu thường trú số 981 của Công an thị xã M cấp cho hộ ông Phạm Văn M ngày ngày 01/12/1984 (bản sao y bản chính); Bằng lái xe số 61-1714-A của Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông - Bộ Nội vụ cấp cho ông M ngày 26/02/1979 (bản sao y bản chính).

Tại phiên họp,

- Ông Phạm Thành Đ giữ nguyên yêu cầu, không giao nộp thêm chứng cứ cho Tòa án.

- Kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu: Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với yêu cầu tuyên bố ông Phạm Văn Một mất tích của ông Đ là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Tòa án chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của ông Đ và Kiểm sát viên tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một nhận định:

Yêu cầu của ông Đ là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (quy định tại khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự). Do ông M có nơi cư trú cuối cùng tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (quy định điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự). Căn cứ Điều 25, khoản 1 Điều 155 của Bộ luật Dân sự thì yêu cầu của ông Đ thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu yêu cầu.

Xét đơn yêu cầu của ông Đ, thấy rằng:

Ông Đ và ông Phạm Văn M có quan hệ cha con. Hiện nay, ông M ở đâu, làm gì ông Đ không biết. Ông Đ và gia đình ông Đ muốn thực hiện thủ tục phân chia di sản thừa kế nhưng không thực hiện được. Do đó, ông Đ nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông M mất tích là phù hợp quy định tại Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét các giấy tờ, tài liệu ông Đ giao nộp để yêu cầu Tòa án tuyên bố ông M mất tích như: Đơn xin xác nhận ngày 13/12/2021 của ông Đ về việc vắng mặt của ông M tại địa phương từ ngày 1995 đến nay có xác nhận của Công an phường T; Giấy xác nhận ngày 14/12/2021 của ông Huỳnh Ngọc B, ông Nguyễn Đình T, ông Trần Văn H về việc vắng mặt của ông M tại địa phương từ ngày 1995 đến nay có xác nhận của ông Nguyễn Văn H - Phó Khu phố 3 phường T; Hóa đơn giá trị gia tăng số 0001725 ngày 23/02/2022 của Trung tâm truyền hình Việt Nam khu vực Nam bộ về việc đăng phát thông báo tìm kiếm ông M; Hóa đơn giá trị gia tăng số 47 ngày 11/3/2022 của Công ty Cổ phần Thông tin Truyền Thông Công Lý và 03 số báo của Báo Công Lý đăng tin tìm kiếm ông M, thấy rằng: Tất cả các giấy tờ, tài liệu trên đều là bản chính nên được xác định là chứng cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào xác nhận của Ban điều hành Khu phố 3 phường T, của Công an phường T và lời trình bày của ông Đ về việc tìm kiếm ông M từ năm 1995 đến nay, chứng minh ông M đã bỏ nhà, địa phương đi từ năm 1995 đến nay không có tin tích xác thực ông M còn sống hay đã chết. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự, Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố ông M mất tích của ông Đ.

Từ những nhận định trên xét thấy ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết việc dân sự có căn cứ nên Tòa chấp nhận.

Về lệ phí việc dân sự: Ông Đ phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 95, các Điều 370, 371, 372, 387, 388, 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 25, khoản 1 Điều 68, khoản 1 Điều 155 của Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Phạm Thành Đ.

Tuyên bố ông Phạm Văn M, sinh năm 1937; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Số 139 đường T, Tổ 38, Khu phố 3 (số cũ K4/B54 và số 22 đường T, Tổ 38, Khu phố 4), phường T, thành phố M, tỉnh Bình Dương mất tích từ năm 1995.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Thành Đ nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) đồng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) đã nộp tạm ứng trước đây theo Biên lai thu số AA/2021/0000793 ngày 18/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Ông Phạm Thành Đ có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ