vanban.org

Quyết định 09/2021/KQHG-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án, cụ thể: Về quan hệ hôn nhân: Bà Thị N và ông Điểu K thuận tình ly hôn.

Tòa án tỉnh Bình Phước; VKSND huyện Lộc Ninh; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án, cụ thể: Về quan hệ hôn nhân: Bà Thị N và ông Điểu K thuận tình ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC NINH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 09/2021/KQHG -HNGĐLộc Ninh, ngày 05 tháng 7 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN Căn cứ vào các Điều 32, 33, 34, 35 của Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Sau khi nghiên cứu biên bản ghi nhận kết quả hòa giải đối với hồ sơ hòa giải tại Tòa án thụ lý số: 12A/2021/HGTTA-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2021 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và nuôi con” của người yêu cầu: 1) Bà Thị N, sinh năm 2000 Địa chỉ: Ấp Tà Tê 2, xã Lộc Thành, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. 2) Ông Điểu K, sinh năm 1999 Địa chỉ: Ấp Vườn Bưởi, xã Lộc Thiện, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các bên được ghi trong biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 18 tháng 6 năm 2021 có đủ điều kiện để công nhận kết quả hòa giải thành theo quy định tại Điều 33 của Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án. Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được biên bản ghi nhận kết quả hòa giải và tài liệu kèm theo.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án, cụ thể: Về quan hệ hôn nhân: Bà Thị N và ông Điểu K thuận tình ly hôn. Về con chung: Bà Thị N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Thị N1, sinh ngày 14/6/2020. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Thị N không yêu cầu ông Điểu K phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Về tài sản chung: Bà Thị N và ông Điểu K khẳng định tự thỏa thuận nên không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Bà Thị N và ông Điểu K khẳng định không có nên không yêu cầu giải quyết. 2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. 3. Quyết định này được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Cỡ chữ