- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "NGUYỄN TRỌNG T - LÊ THỊ V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của ông Nguyễn Trọng T.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số 09/2019/QĐST-VDS | Buôn Ma Thuột, ngày 04 tháng 3 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Trang
Thư ký phiên họp: Bà Đinh Thị Quyên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dânTp. Buôn Ma Thuột tham gia phiên họp: Ông Y Lương Byă – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2019, tại Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk mở phiên họp sơ thẩm công khai, giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2019/TLST-VDS ngày 02 tháng 01 năm 2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 08/2019/QĐST-VDS ngày 26 tháng 02 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Trọng T
Địa chỉ: Đường A, thôn B, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị V
Địa chỉ: Đường A, thôn B, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, tại bản tự khai và tại phiên họp ông Nguyễn Trọng T trình bày như sau:
Mẹ tôi là bà Lê Thị V bị tâm thần từ năm 2002 cho đến nay, có giấy xác nhận khuyết tật và được hưởng trợ cấp hàng tháng khuyết tật nặng dạng khuyết tật thần kinh tâm thần. Bố tôi là ông Nguyễn Trọng V đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2001 cho đến nay. Ông bà ngoại là ông Lê Văn N và bà Lê Thị H đã chết. Để có cơ sở đại diện giám hộ cho mẹ tôi là bà Lê Thị V, tôi đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố mẹ tôi là Lê Thị V – Sinh năm 1976 bị mất năng lực hành vi dân sự.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột tại phiên họp: Đề nghị Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột áp dụng khoản 1 Điều 22 BLDS năm 2015, chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Trọng T. Tuyên bố bà Lê Thị V – Sinh năm: 1976 là người mất năng lực hành vi dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột nhận định:
Xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự ngày 20/12/2018 của ông Nguyễn Trọng T nhận thấy: Ông Nguyễn Trọng T được quyền yêu cầu tuyên bố bà Lê Thị V bị mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 376 Bộ luật tố tụng dân sự.
Để có căn cứ giải quyết việc dân sự, ngày 16/01/2019 Toà án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 03/2019/QĐ-TCGĐ trưng cầu Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên giám định tình trạng sức khỏe, bệnh tật và năng lực hành vi dân sự của bà Lê Thị V.
Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số 15/KLGĐTC ngày 15/02/2019 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên đã kết luận: Đối tượng: Lê Thị V. Giới tính: Nữ. Sinh năm 1976. Trình độ học vấn: 4/12. Địa chỉ: Đường A, thôn B, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Kết luận về y học: Hiện tại đối tượng bị bệnh Tâm thần phân liệt thể đơn thuần (F20.6-ICD 10)
- Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hiện tại đối tượng mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi.
Căn cứ vào kết luận giám định của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên đối với bà Lê Thị V. Đủ cơ sở để chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Trọng T, tuyên bố bà Lê Thị V - Sinh năm 1976 là người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 22 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Về lệ phí: Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Trọng T cung cấp tài liệu chứng cứ là Giấy chứng nhận Hộ nghèo, hộ cận nghèo số 22/GCN-HN.HCN ngày 03/01/2018 của UBD xã C, trong đó xác định: Hộ gia đình bà Lê Thị V thuộc danh sác hộ nghèo/hộ cận nghèo trong giai đoạn 2016-2020.
Theo quy định tại điểm đ khoản 1, khoản 2 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì ông Nguyễn Trọng T thuộc đối tượng được miễn tiền án phí, lệ phí Tòa án. Do đó ông Nguyễn Trọng T không phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1, khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
- Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của ông Nguyễn Trọng T.
Tuyên bố bà Lê Thị V-Sinh năm 1976 là người mất năng lực hành vi dân sự.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Trọng T không phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự.
Ông Nguyễn Trọng T được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số AA/2017/0011625 ngày 27/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - VKSND Tp. BMT; - Đương sự; - CC THADS Tp.B; - UBND xã C, TP. B; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | (ĐÃ KÝ) Nguyễn Thị Thu Trang |