- Tranh chấp gì? "Quyết định số 09/2019/QĐ-TA ngày 20/9/2019"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: “Cơ sở Cai nghiện ma túy” trực thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh T
- Căn cứ chính? Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 09/2019/QĐ - TA | Tân Phước, ngày 20 tháng 6 năm 2019. |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Mai Thanh Liêm.
2. Thư ký phiên họp: Bà Dương Thị Bé Thi.
Ngày 20 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 09/2019/QĐ-TA ngày 13 tháng 6 năm 2019 đối với:
Họ và tên: Trần Văn T Giới tính: Nam.
Sinh ngày: 12 tháng 4 năm 1993.
CMND số: 312185905. Ngày cấp: ………………. Nơi cấp:………………
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 12/12.
Nguyên quán: Xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
Hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
Chỗ ở: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Con ông: Trần Văn C và bà Hà Thị D.
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Văn N – Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Tiền Giang, là đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T1 – Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Tiền Giang (Văn bản ủy quyền ngày 07-6-2019).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên họp: Ông Lê Trung Hiếu – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 01-3-2019, Trần Văn T bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định số 285/QĐ-UBND, áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời gian 03 tháng kể từ ngày 01-3-2019 đến ngày 01-6-2019, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Trong thời gian đang chấp hành Quyết định, đối tượng T có hành vi nghiện ma túy nên Công an xã T mời về trụ sở làm việc vào ngày 15-5-2019 và đối tượng thừa nhận có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 13-5-2019 tại nhà thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Tại Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 15-5-2019 của Trung tâm Y tế huyện T, kết quả xét nghiệm đối tượng T dương tính với Methamphetamine. Ngày 18-5-2019, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T ban hành Quyết định số 319/QĐ-UBND chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với đối tượng T và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Đại diện cơ quan đề nghị là ông Nguyễn Văn N trình bày: Đối tượng Trần Văn T đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã. Trong thời gian quản lý, giáo dục tại địa phương đối tượng không tiến bộ mà lại tiếp tục tái phạm sử dụng chất ma túy. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T đã ra Quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với đối tượng và lập hồ sơ đề nghị đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện T đề nghị Thẩm phán quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa đối tượng vào Cơ sở Cai nghiện ma túy trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh T thời gian từ 12 đến 24 tháng.
Đối tượng Trần Văn T trình bày: Tôi sẽ chấp hành theo quyết định của Tòa án.
Kiểm sát viên phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính: Từ khi thụ lý hồ sơ đến phiên họp hôm nay, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và những người tham gia phiên họp đã tuân thủ đúng quy định của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20-01-2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không.
- Về nội dung: Đề nghị Thẩm phán chấp nhận đề nghị của Phòng Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện T, đưa đối tượng Trần Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 12 tháng.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của những người tham gia phiên họp.
XÉT THẤY:
1. Về tố tụng: Cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đối tượng Tiền vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T nên Tòa án nhân dân huyện Tân Phước thụ lý hồ sơ là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20-01-2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
2. Xét tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:
Hồ sơ đề nghị đã đầy đủ các giấy tờ, tài liệu và các giấy tờ tài liệu đó đã phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Trần Văn T thực hiện hành vi vi phạm hành chính lần cuối vào ngày 13-5-2019 đến nay vẫn còn trong thời hạn 03 tháng nên thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vẫn còn theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Về đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Trần Văn T là đối tượng nghiện ma túy trên 18 tuổi đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã mà vẫn còn nghiện nên là đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Về thẩm quyền lập hồ sơ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T lập hồ sơ là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị: Thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đúng theo quy định tại Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 13 và 17 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 20-7-2013, điểm a khoản 1 Điều 8 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013, các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ, khoản 2 Điều 20 Thông tư số 19/2015/TT-BTP ngày 28-12-2015 của Bộ Tư pháp.
3. Xét hành vi vi phạm của đối tượng: Đối tượng T đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng không cố gắng chấp hành tốt mà lại tiếp tục vi phạm trong thời gian chấp hành quyết định. Khi thực hiện hành vi của mình, đối tượng hoàn toàn ý thức được hành vi đó là vi phạm pháp luật, nhưng do xuất phát từ ý thức xem thường pháp luật, đối tượng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của đối tượng T đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương
Tệ nạn ma túy đang là hiểm họa của các quốc gia dân tộc trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng; là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS. Những hậu quả do tệ nạn ma túy gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế - xã hội và an ninh trật tự của đất nước. Nghiện ma túy làm suy kiệt trí tuệ, hủy hoại sức khỏe con người, ảnh hưởng đến giống nòi; làm cho nhiều gia đình rơi vào cảnh khánh kiệt, bần cùng. Nhưng hiện vẫn còn không ít đối tượng vẫn sử dụng trái phép chất ma túy để tự hủy hoại đời mình, trong đó có đối tượng T.
Về tình tiết tăng nặng: Đối tượng có 01 tình tiết tăng nặng quy định tại diểm h khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính là vi phạm trong thời gian đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính.
Về tình tiết giảm nhẹ: Đối tượng không có tình tiết giảm nhẹ.
Do đó cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm của đối tượng để đối tượng được chữa bệnh, lao động, học tập, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc, sau này trở về thành người tốt, có ý thức tuân theo pháp luật, quy tắc của cuộc sống xã hội; có ích cho bản thân, gia đình và góp ích cho xã hội.
Xét ý kiến và đề nghị của đại diện cơ quan đề nghị phù hợp với nhận định trên, Thẩm phán chấp nhận.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định trên, Thẩm phán chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 6, các khoản 1, 2 Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105, Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3, Điều 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20-01-2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: “Cơ sở Cai nghiện ma túy” trực thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh T
- xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, đối với đối tượng Trần Văn T.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Đối tượng Trần Văn T có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Tiền Giang có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Tiền Giang phối hợp với Công an huyện T, tỉnh Tiền Giang đưa đối tượng Trần Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - Người bị áp dụng: Trần Văn T; - Ủy ban nhân dân xã T; - Trưởng Công an huyện T; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước; - Trưởng Phòng LĐ-TB và Xã hội huyện T; - Cơ sở Cai nghiện ma túy- Sở LĐ-TB&XH TG; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Mai Thanh Liêm |