vanban.org

Quyết định 08/QĐ-TA

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 06/01/2025 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố H thành lập đối với ông Phạm Ngọc Minh T tại Cơ sở cai nghiện ma túy Đ.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu là: Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy B. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố H thành lập đối với ông Phạm Ngọc Minh T tại Cơ sở cai nghiện ma túy Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 108 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 105/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 08/QĐ-TAGò Vấp, ngày 06 tháng 01 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp tại điểm cầu trung tâm gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Lê Thị Thành Huế

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Minh Tú

Ngày 06 tháng 01 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân quận G, Thành phố H và điểm cầu thành phần Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy B, tiến hành phiên họp trực tuyến xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hồ sơ thụ lý số 595/2024/TL-XLHC ngày 23 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định mở phiên họp số 576/QĐ-TA ngày 26 tháng 12 năm 2024, đối với:

Phạm Ngọc Minh T, sinh năm 1991; Giới tính: Nam; CCCD: 07XXXXXXXXXX; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nguyên quán: Đ; Hộ khẩu thường trú: số 1 L, Phường S, quận G, Thành phố H; Nơi cư trú: không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Phạm Ngọc T và bà: Nguyễn Thị Diễm T; Tiền án: không; Tiền sự: 02.

(Có mặt tại điểm cầu thành phần Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy B).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị tại điểm cầu trung tâm: Ông Trần Trung Dũng – Cán bộ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận G.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận G tại điểm cầu trung tâm: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thu – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 09/10/2024; Công an Phường S, quận G, Thành phố H nghi vấn ông Phạm Ngọc Minh T sử dụng chất ma túy trái phép nên mời về trụ sở để làm việc. Công an Phường S đưa đến Trung tâm y tế quận G – Trạm y tế Phường H để xét nghiệm, kết quả ông Phạm Ngọc Minh T dương tính với ma túy (Methamphetamin (MET)). Tại Bản tường trình ngày 09/10/2024, ông Phạm Ngọc Minh T thừa nhận bản thân có sử dụng chất trái phép chất ma túy. Do ông Phạm Ngọc Minh T không có nơi cư trú ổn định, không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên Công an Phường S, quận G và Ủy ban nhân dân Phường S, quận G đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Ngọc Minh T.

Ngày 20/12/2024, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận G có văn bản đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Ngọc Minh T.

Tại phiên họp:

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận G ý kiến: Do ông Phạm Ngọc Minh T nghiện ma túy, không có nơi cư trú ổn định và không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên các cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ theo đúng trình tự thủ tục, quy định của pháp luật. Nay đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy Đ đối với ông Phạm Ngọc Minh T thời hạn 18 tháng đến 21 tháng.

Ông Phạm Ngọc Minh T xác nhận bản thân có sử dụng trái phép chất ma túy (Methamphetamin (MET)), thường xuyên sống lang thang, không nơi cứ trú ổn định, không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyên. Nay không có ý kiến gì đối với việc đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận G.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận G xác định việc tuân theo pháp luật về việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Đề nghị Toà án nhân dân quận Gò Vấp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Ngọc Minh T theo đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội quận G.

XÉT THẤY:

Tòa án nhân dân quận G xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội quận G là đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.

Ngày 09/10/2024, Công an Phường S, quận G phát hiện ông Phạm Ngọc Minh T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên lập biên bản vi phạm hành chính, đến thời điểm mở phiên họp hôm nay là còn thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Căn cứ Biên bản vi phạm hành chính, Biên bản xét nghiệm chất ma túy của Công an Phường S, quận G, Thành phố H, bản tường trình do ông Phạm Ngọc Minh T ký tên, phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy do Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy B lập thể hiện ông Phạm Ngọc Minh T nghiện ma túy (Methamphetamin (MET)).

Căn cứ kết quả xác minh tình trạng cư trú của Công an Công an Phường S, quận G, Thành phố H xác định ông Phạm Ngọc Minh T có hộ khẩu thường trú tại 1 L, Phường S, quận G, Thành phố H nhưng không thực tế cư trú tại địa phương và không đăng ký tạm trú, không thực tế cư trú tại 1 Đường số B, Phường S, quận G, Thành phố H.

Căn cứ bản tóm tắt lý lịch có xác nhận của Công an Phường S, quận G và trích lục tiền án, tiền sự của Phòng hồ sơ nghiệp vụ, Công an Thành phố H thì ông Phạm Ngọc Minh T không có tiền án, có 02 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Từ những căn cứ trên đã có đủ cơ sở xác định: Ông Phạm Ngọc Minh T là người Việt Nam trên 18 tuổi, không có nơi cư trú ổn định, có nhân thân xấu và nghiện ma túy, không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nên thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021 và các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Do đó, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội quận G đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Ngọc Minh T là có cơ sở.

Xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Ngọc Minh T được Công an Phường S, quận G; Ủy ban nhân dân Phường S, quận G; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận G lập đúng và đầy đủ theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định.

Xét ông Phạm Ngọc Minh T là người Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên và biết rõ ma túy là chất độc hại và sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý sử dụng ma túy để thỏa mãn cơn nghiện. Hành vi của ông Phạm Ngọc Minh T đã xâm phạm đến chủ trương chính sách của Nhà nước về phòng chống tệ nạn ma túy và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn khu dân cư, do đó việc áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Ngọc Minh T là cần thiết.

Xét thấy, ông Phạm Ngọc Minh T qua xác định là nghiện ma túy (Methamphetamin (MET)) nên cần phải có thời gian cai nghiện dài mới giúp ông Phạm Ngọc Minh T từ bỏ việc sử dụng ma túy.

Xét nhân thân ông Phạm Ngọc Minh T không có tiền án, có 02 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Tuy nhiên cũng xem xét cho ông Phạm Ngọc Minh T một số tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên họp thể hiện sự thành khẩn khai nhận, thành thật hối lỗi, nhận thức được tác hại nguy hiểm của việc sử dụng chất ma túy. Có biểu hiện tốt trong thời gian lưu trú tại cơ sở, chấp hành tốt trong điều trị nghiện và các nội quy, quy định của Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy B.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 2; điểm a khoản 1 Điều 3; Điều 23; Điều 24; Điều 25; khoản 1 Điều 30; Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ Điều 3; Điều 6; Điều 9; Điều 10; Điều 95; Điều 96; khoản 2 Điều 105; Điều 106; Điều 107; khoản 2, khoản 3 Điều 108 và điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020);

Căn cứ khoản 12 Điều 2; Điều 5 và khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021;

Căn cứ Nghị định số 105/2021/NĐ-CP ngày 04/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy;

Căn cứ Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố H thành lập đối với ông Phạm Ngọc Minh T tại Cơ sở cai nghiện ma túy Đ.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu là: Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy B.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Trong thời hạn cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.

3. Ông Phạm Ngọc Minh T có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận G, Thành phố H có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân quận G, Thành phố H có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định này.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ sở cai nghiện ma túy Đ.

Cỡ chữ