vanban.org

Quyết định 08/QĐ-TA

TAND huyện U Minh, tỉnh Cà Mau Tuyên án 24/08/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn L.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày 17 tháng 7 năm 2020. Người bị đề nghị Trần Văn L có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện U có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 08/QĐ-TAU Minh, ngày 24 tháng 8 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hồng Ý

2. Thư ký phiên họp: Bà Dương Thị Lụa, Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Ngày 24 tháng 8 năm 2020, tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 08/2020/QĐ-TA ngày 14 tháng 8 năm 2020 đối với:

Họ và tên: Trần Văn L; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1991; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Nguyên quán: Xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; Hộ khẩu thường trú: Ấp 2, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: Không nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Làm thuê; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông: Trần Văn L1 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị H.

Người bị đề nghị có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện hợp pháp của cơ quan đề nghị: Ông Đào Quốc K – Phó Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện U, tỉnh Cà Mau (Theo văn bản ủy quyền số 21/TB-LĐTBXH ngày 24/8/2020).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên họp: Ông Lê Vũ Linh - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 16/7/2020, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về đối tượng nghi vấn, Công an huyện U kết hợp với Công an thị trấn U tiến hành kiểm tra, phát hiện Trần Văn L có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy nên mời về trụ sở làm việc. Trần Văn L thừa nhận đã thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm y tế huyện U và Thông báo về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau thể hiện Trần Văn L nghiện ma túy tổng hợp. Quá trình lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc xác định đối tượng Trần Văn L không có nơi cư trú ổn định.

Tại Thông báo số 44/TB-PTP ngày 04/8/2020 của Phòng Tư pháp huyện U về kết quả kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn L kết luận hồ sơ đảm bảo tính pháp lý theo quy định pháp luật.

Tại Công văn số 71/LĐTBXH ngày 05/8/2020, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện U đề nghị Tòa án nhân dân huyện U Minh xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn L từ 12 đến 18 tháng.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện U giữ nguyên đề nghị theo Công văn số 71/LĐTBXH ngày 05/8/2020. Trần Văn L thừa nhận có hành vi sử dụng ma túy và bị Công an thị trấn U lập biên bản vào ngày 17/7/2020. L trình bày bản thân có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp 2, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau, tuy nhiên không thường xuyên sinh sống tại địa chỉ này, cơ quan lập hồ sơ xác định L không có nơi cư trú ổn định là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh phát biểu ý kiến: Về trình tự thủ tục Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, cơ quan đề nghị đã thực hiện đúng theo quy định của Điều 95, 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ, do đó Viện kiểm sát thống nhất với đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện U về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn L.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện U, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và đối tượng bị đề nghị tại phiên họp,

XÉT THẤY:

Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Ngày 17/7/2020, Công an thị trấn U, huyện U phát hiện Trần Văn L sử dụng trái phép chất ma túy và lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp, Trần Văn L thừa nhận có thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn L vẫn còn.

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị đã thực hiện đúng theo quy định tại các điều 103, 104 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 8 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Quá trình lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc xác định Trần Văn L có nơi đăng ký nhân khẩu thường trú tại ấp 2, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau, tuy nhiên L không thường xuyên sống tại địa chỉ này. Từ đó có cơ sở xác định Trần Văn L không có nơi cư trú ổn định.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi: Tại biên bản ghi lời khai và bản tường trình, Trần Văn L thừa nhận đã sử dụng trái phép chất ma túy. Lời thừa nhận của L phù hợp với Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm y tế huyện U và Thông báo về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau. Tại thời điểm sử dụng ma túy, Trần Văn L đã đủ 18 tuổi, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và tác hại của ma túy đối với sức khỏe, kinh tế của người sử dụng nhưng vẫn thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu về ma túy của bản thân. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Văn L là nguy hiểm cho xã hội, đã tác động và gây khó khăn trong việc thực hiện chính sách quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.

Từ các căn cứ nêu trên, xét thấy việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn L là cần thiết, nhằm tạo điều kiện cho L được cai nghiện tốt, phục hồi sức khỏe, đảm bảo điều kiện để tái hòa nhập với cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Tuy nhiên, khi bị phát hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Trần Văn L đã tự nguyện khai báo, hợp tác với cơ quan chức năng trong quá trình lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính là tình tiết giảm nhẹ khi áp dụng thời hạn đối với L.

Như đã phân tích trên, xét đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện U và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 1 Điều 96 và điểm b khoản 1 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn L.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày 17 tháng 7 năm 2020.

3. Người bị đề nghị Trần Văn L có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện U có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

Cỡ chữ