vanban.org

Quyết định 08/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N; sinh năm 1973 (tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Giang, địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang).

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đối tượng Nguyễn Văn N, Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quyền khiếu n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N; sinh năm 1973 (tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Giang, địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang).
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 30 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 08/QĐ-TATân Yên, ngày 10 tháng 10 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN - BẮC GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: ông Nguyễn Ánh Dương

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Duyên

Ngày 10/10/2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 09/QĐ - TA ngày 05/10/2017 đối với:

Anh Nguyễn Văn N, Giới tính: Nam

Sinh ngày 29/10/1973

CMND số: 1214473 ngày cấp 23/3/2010, nơi cấp: CA tỉnh B.

Dân tộc: kinh

Tôn giáo: không

Trình độ văn hóa: 11/12

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Phố Tiến T, thị trấn Nhã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

Tiền án: Không; tiền sự: Không.

Con ông Nguyễn Cao N và bà Nguyễn Thị L

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trương Bắc Lâm – Trưởng phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang: Ông Giáp Văn Hùng - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Tại bản tường trình ngày 08/9/2017 và các lời khai tiếp theo Nguyễn Văn N khai, Nam bị UBND thị trấn N, huyện T ra Quyết định số 28/QĐ- UBND ngày 06/3/2017 về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn N, huyện T về việc sử dụng ma túy với thời gian 03 tháng, kể từ ngày 06/3/2017. Sau khi chấp hành xong thời hạn 03 tháng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã và được cấp giấy chứng nhận số 48/GCN-UBND ngày 06/6/2017 chấp hành xong thời hạn giáo dục tại thị trấn N thì đến ngày 04/9/2017 N lại bị Công an thị trấn N lập biên bản xét nghiệm chất ma túy. Ngày 08/9/2017 N bị lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy

Quá trình làm việc và tại phiên họp hôm nay N khai nhận sử dụng ma túy Hê rô in từ năm 2008 đến năm 2015, từ năm 2015 đến nay thì N sử dụng ma túy tổng hợp và ngày 08/9/2017 bị Công an thị trấn N lập biên bản.

Tại phiên họp hôm nay, Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T đề nghị: Giữ nguyên quan điểm áp dụng xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N với thời gian là 24 tháng, do Nam không tự cai nghiện ma túy.

Tại phiên họp hôm nay, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện T có ý kiến: Quá trình thụ lý hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đưa vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc và tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký, đại diện cơ quan đề nghị, người bị đề nghị đã thực hiện đúng theo quy định của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Đề nghị chấp nhận quan điểm về việc đưa Nguyễn Văn N vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc với thời gian là 24 tháng do N nghiện ma túy và không tự cai nghiện được.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cai nghiện bắt buộc được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của cơ quan đề nghị, đại diện viện kiểm sát, người bị đề nghị.

XÉT THẤY:

* Về thẩm quyền xem xét, quyết định: Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T, tỉnh Bắc Giang lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân huyện T xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N do nghiện ma túy, không tự cai nghiện. Nên TAND huyện T thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính.

* Về thời hiệu áp dụng: Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn N lập ngày 08/9/2017 do N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 03/10/2017 TAND huyện T thụ lý hồ sơ xem xét, quyết định là còn thời hiệu xử lý vi phạm hành chính được quy định tại Điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

* Xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc thấy: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện đối với Nguyễn Văn N đã đầy đủ các tài liệu, phù hợp với Điều 103; Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính.

* Xét đề nghị của Trưởng phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T thấy: Nguyễn Văn N là người đã thành niên, biết tác hại của ma túy nhưng vẫn sử dụng, N đã bị UBND thị trấn N áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn N số: 28/QĐ – UBND ngày 06/3/2017 thời hạn là 03 tháng. Hết thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương, Nguyễn Văn N vẫn tiếp tục sử dụng chất ma tuý. Tại phiếu trả lời kết quả 08/9/2017 Trạm y tế thị trấn N xác định N có nghiện ma túy (loại ma túy tổng hợp). Chứng tỏ Nguyễn Văn N là người khó có thể cai nghiện tại cộng đồng. Việc sử dụng ma túy của N là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Nguyễn Văn N đã vi phạm: khoản 3 Điều 3 Luật phòng, chống ma túy; Khoản 1 khoản 16 Điều 2; Khoản 1 Điều 96; Điểm a khoản 1 Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Để Nguyễn Văn N cai nghiện được ma túy và trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đối tượng đồng ý đi cai nghiện bắt buộc. Cần chấp nhận đề nghị của Trưởng phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T, tỉnh Bắc Giang và đại diện Viện kiểm sát, đưa Nguyễn Văn N đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Giang với thời hạn là 24 tháng là có cơ sở, đúng pháp luật.

Xét về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình làm việc và tại phiên họp hôm nay N đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét về tình tiết tăng nặng: Đối tượng Nguyễn Văn N đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại xã và đã được cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định trên. Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 – Luật xử lý vi phạm hành chính, thì thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính là: “…trong thời hạn 2 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính…mà không tái phạm thì được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính…”. Chưa hết thời hạn 02 năm đối tượng Nguyễn Văn N lại vi phạm do vậy đối tượng phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm” qui định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ vào Điều 95; Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ Điều 30; Điều 31; Điều 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N; sinh năm 1973 (tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Giang, địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang).

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Đối tượng Nguyễn Văn N, Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quyền khiếu nại, kiến nghị và kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện T, tỉnh Bắc Giang.

Cỡ chữ