- Tranh chấp gì? "Hoàng Trung T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn.
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 08/QĐ-TA | Chi Lăng, ngày 17 tháng 8 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Trương Thị Hương Giang.
2. Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Hoa.
Ngày 17 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 08/QĐ-TA ngày 11 tháng 8 năm 2022 đối với:
Họ và tên: Hoàng Trung T. Giới tính: Nam.
Sinh ngày 16 tháng 6 năm 1993.
Số căn cước công dân: 020093008115 ngày cấp 24 tháng 6 năm 2021 tại Cục quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an.
Dân tộc: Nùng.
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: Lớp 6/12.
Nguyên quán: Thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu H, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
Nghề nghiệp: Không.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 17 tháng 01 năm 2022 bị Công an huyện Chi Lăng xử phạt vi phạm hành chính dưới hình thức phạt tiền 3.500.000 đồng do có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Con ông Hoàng Văn Y và con bà Hoàng Thu H.
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội – Dân tộc huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn: Ông Hoàng Văn Tầm – Phó Trưởng phòng.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn: Ông Nông Ngọc Hưng - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 19/01/2022 Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã ra Quyết định số 55/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Hoàng Trung T thời hạn là 01 năm. Đang trong thời hạn áp dụng biện pháp quản lý, Hoàng Trung T không chấp hành tốt các quy định của pháp luật, không tự cai nghiện ma túy tại gia đình mà vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy được thể hiện tại Biên bản xét nghiệm kiểm tra sử dụng chất ma túy ngày 22/7/2022 và Phiếu kết quả về xác định người nghiện ma túy ngày 26/7/2022 của Trạm trưởng trạm y tế thị trấn Đ và bị Công an thị trấn Đ lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội – Dân tộc huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn trình bày ý kiến: Đối tượng Hoàng Trung T đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, phường, thị trấn nhưng không tiến bộ, vẫn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong quá trình lập hồ sơ người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, đối tượng Hoàng Trung T có nhân thân xấu, không có tiền án, tiền sự. Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội – Dân tộc huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đề nghị đưa đối tượng Hoàng Trung T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là từ 18 đến 22 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến: Hồ sơ, thủ tục về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Trung T là đảm bảo tuân theo đúng quy định của pháp luật. Trình tự thủ tục tại phiên họp được thực hiện đầy đủ và theo đúng luật định. Người tiến hành phiên họp và người tham gia phiên họp chấp hành đúng quy định của pháp luật. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; điểm b khoản 1 Điều 10; các Điều 95, 96, 103, 104, 105, 106 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Có đủ căn cứ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Trung T. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội – Dân tộc huyện Chi Lăng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Trung T với thời hạn từ 18 đến 22 tháng.
XÉT THẤY:
Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Trung T được thực hiện như sau:
Hồ sơ đề nghị đã có đầy đủ các giấy tờ, tài liệu theo quy định tại khoản 1 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính gồm: Bản tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị đầy đủ theo quy định; Quyết định số 55/QĐ-UBND ngày 19/01/2022 về việc áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Hoàng Trung T; các tài liệu chứng minh những hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng Hoàng Trung T, thể hiện rõ hành vi vi phạm hành chính về sử dụng trái phép chất ma túy, phù hợp theo quy định tại Điều 95 của Luật Xử lý vi phạm hành chính cùng với bản tường trình của người vi phạm.
Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm. Tính từ ngày 22/7/2022 là ngày Hoàng Trung T thực hiện hành vi vi phạm lần cuối thì thời hiệu vẫn đảm bảo phù hợp theo quy định.
Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là nam giới, sinh ngày 16/6/1993, không có căn cứ chứng minh bị mất hoặc hạn chế năng lực trách nhiệm hành chính. Chính quyền địa phương nơi đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã xác nhận đối tượng Hoàng Trung T có sử dụng ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại xã Q, huyện C nên đối tượng đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020; khoản 12 Điều 2, khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021.
Thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là đúng theo quy định của pháp luật: Theo khoản 1 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính, đối tượng có nơi thường trú ổn định tại thị trấn Đ, huyện Chnên thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Đ và Công an thị trấn Đ có trách nhiệm thu thập tài liệu lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Trung T.
Như vậy, hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Trung T là đầy đủ trình tự, thủ tục, đảm bảo hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Hành vi của Hoàng Trung T là nguy hiểm cho xã hội. Bản thân Hoàng Trung T có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm các quy định của pháp luật về chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự của địa phương nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, Hoàng Trung T đã bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không có tiến bộ, vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm do vậy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Tại phiên họp đại diện Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội – Dân tộc huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đề nghị đưa đối tượng Hoàng Trung T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 18 đến 22 tháng. Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm mà Hoàng Trung T gây ra thì cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Trung T trong một thời gian nhất định để Hoàng Trung T lao động, học văn hóa, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc, có như vậy mới có thể răn đe, giáo dục Hoàng Trung T trở thành người công dân có ích cho gia đình, cho xã hội và phòng ngừa chung tội phạm tuy nhiên cũng cần xem xét đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của đối tượng để đưa ra mức áp dụng cho phù hợp. Xét về nhân thân: Hoàng Trung T có nhân thân xấu, không có tiền án, tiền sự. Về tình tiết tăng nặng: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ: Hoàng Trung T tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Trên cơ sở xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, xét thấy mức đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội – Dân tộc huyện Chi Lăng và Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9; điểm b khoản 1 Điều 10; các Điều 95; 96; 103; 104; 105; 106 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); khoản 12 Điều 2, khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021.
Căn cứ Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính Phủ Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy
Căn cứ các Điều 19; 22; 23; 24; 30; 31 và 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn. Địa chỉ: Km10, xã Tân Thành, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đối với Hoàng Trung T, sinh ngày 16 tháng 6 năm 1993; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu H, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 01 (một) năm 08 (tám) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định:
Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (ngày 17 tháng 8 năm 2022).
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội – Dân tộc huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Công an huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
| Nơi nhận: - Người bị áp dụng; - Phòng LĐ,TB,XH-DT huyện Chi Lăng; - Công an huyện Chi Lăng; - VKSND huyện Chi Lăng; - UBND thị trấn Đ, huyện Chi Lăng; - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Trương Thị Hương Giang |