- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Nguyễn Thị Thúy-Lê Thị Dung"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”.
- Căn cứ chính? Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự và bản Kết luận giám định pháp y tâm thần; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 08/2024/QĐST-VDS | Bến Cát, ngày 18 tháng 12 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Ngọc Hoàng An - Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 507/2024/TLST-VDS ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp số: 15/2024/QĐPH-VDS ngày 06 tháng 12 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1988.
Hộ khẩu thường trú: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
Địa chỉ liên lạc: Số 93/39, ấp 4, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị D, sinh năm 1956.
Hộ khẩu thường trú: Khu phố 3, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự ngày 12/8/2024 về việc tuyên bố bà D mất năng lực hành vi dân sự và ý kiến trình bày tại phiên họp xét việc dân sự của bà T cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ, nội dung sự việc như sau:
Bà D là mẹ ruột của bà T. Khoảng đầu năm 2017, bà D bị tai biến, không đi lại được và được nhập viện điều trị. Sau đó, bà D được đưa về tự điều trị tại nhà thì bà D có bớt bệnh. Khoảng năm 2019, bệnh tai biến của bà D tái phát, bị liệt toàn thân, không nói được nhưng vẫn còn ý thức. Bà D được nhập viện điều trị nhưng không khỏi bệnh. Cho nên, gia đình đã đưa bà D về nhà tự điều trị. Cho đến nay, bệnh của bà D không có tiến triển gì tốt hơn. Nay, bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà D bị mất năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật.
Tại phiên họp:
Người yêu cầu bà T giữ nguyên yêu cầu và các ý kiến đã trình bày, không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:
- Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương thụ lý việc dân sự là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định tại các Điều 369 và Điều 377 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ vào Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự và bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 9241/KLGĐ ngày 18/11/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của bà T về việc tuyên bố bà D mất năng lực hành vi dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân nhân dân thành phố Bến Cát nhận định:
Về tố tụng: Theo đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà T là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà D có địa chỉ thường trú tại khu phố 3, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 và điểm a khoản 2 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Bà T trình bày bà D là mẹ ruột của bà T. Khoảng đầu năm 2017, bà D bị tai biến, không đi lại được và được nhập viện điều trị. Sau đó, bà D được đưa về tự điều trị tại nhà thì bà D có bớt bệnh. Khoảng năm 2019, bệnh tai biến của bà D bị tái phát, bị liệt toàn thân, không nói được nhưng vẫn còn ý thức. Bà D được nhập viện điều trị nhưng không khỏi bệnh. Cho nên, gia đình đã đưa bà D về nhà tự điều trị. Cho đến nay, bệnh của bà D không có tiến triển gì tốt hơn. Nay, bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà D bị mất năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật.
Ngày 09/10/2024, bà T có đơn yêu cầu giám định mất năng lực hành vi dân sự. Trên cơ sở đơn yêu cầu của bà T, Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát ra Quyết định trưng cầu giám định số 41/2024/QĐ-TCGĐ ngày 07/11/2024 trưng cầu Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện việc giám định tâm thần đối với bà D. Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 9241/KLGĐ ngày 18/11/2024 Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Về y học, đương sự bị sa sút tâm thần do bệnh mạch máu mức độ nặng (F01-ICD10). Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Do đó, việc bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà D mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ chấp nhận, phù hợp quy định tại Điều 22 Bộ luật Dân sự.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp quan điểm giải quyết việc dân sự đề nghị chấp nhận yêu cầu là phù hợp.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Bà T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, điểm a khoản 2 Điều 40, các Điều 149, 361, 367, 369, 370, 371, 372, 376, 377 và 378 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 22 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”.
Tuyên bố bà Lê Thị D, sinh năm 1956; hộ khẩu thường trú: Khu phố 3, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương mất năng lực hành vi dân sự.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà bà T đã đóng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000834 ngày 20/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Bà Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Toà án ra Quyết định.
Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Bến Cát; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Chi cục THADS thành phố Bến Cát; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phạm Ngọc Hoàng An |