vanban.org

Quyết định 08/2024/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND TP. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 16/12/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Huỳnh Văn L, về việc yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Tuyên bố: Anh Huỳnh Hồng T, sinh năm 1988; Nơi thường trú: Số 391, đường B, tổ 38, khóm B, Phường 4, thành phố C, tỉnh Đ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Ông Huỳnh Văn L là người giám hộ cho anh Huỳnh Hồng T. Ông Huỳnh Văn L được thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người giám hộ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Huỳnh Văn L, về việc yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
  • Căn cứ chính? Điều 23 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 08/2024/QĐST-DSTP. Cao Lãnh, ngày 16 tháng 12 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức,

làm chủ hành vi

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Ong Thị Ngọc Tâm.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Lệ Huyên - Thư ký Toa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Mỹ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 09/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 11 năm 2024, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 41/2024/QĐST-DS ngày 29 tháng 11 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Huỳnh Văn L, sinh năm 1959; Địa chỉ thường trú: Số 391, đường B, tổ 38, khóm B, Phường 4, thành phố C, tỉnh Đ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Huỳnh Hồng T, sinh năm 1988.

Nơi thường trú: Số 391, đường B, tổ 38, khóm B, Phường 4, thành phố C, tỉnh Đ.

2. Chị Huỳnh Thị Ngọc H, sinh năm 1978 (Chị ruột của anh T)

Địa chỉ thường trú: Ấp M, xã H, huyện M, tỉnh B.

Địa chỉ liên hệ: Số 392, đường B, tổ 38, khóm B, Phường 4, thành phố C, tỉnh Đ.

3. Chị Huỳnh Ngọc M, sinh năm 1978 (Chị ruột của anh T)

Địa chỉ liên hệ: Số 391, đường B, tổ 38, khóm B, Phường 4, thành phố C, Đ.

4. Chị Huỳnh Thị Thu Tr, sinh năm 1983 (Chị ruột anh T)

Địa chỉ: Số 391, đường B, tổ 38, khóm B, Phường 4, thành phố C, tỉnh Đ.

5. Chị Huỳnh Thị N, sinh năm 1986 (chị ruột của anh T)

Địa chỉ: (Nhà không số), đường B, tổ 38, khóm B, Phường 4, thành phố C, tỉnh Đ.

6. Chị Huỳnh Thị H, sinh năm 1991 (Em ruột của anh T)

Địa chỉ: Nhà không số, đường B, tổ 38, khóm B, Phường 4, thành phố C tỉnh Đ.

(Ông L, chị M, chị Tr và chị H có mặt tại phiên họp; Chị N và chị H vắng

mặt và có đơn vắng măt tại phiên họp)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Ông Huỳnh Văn L là cha ruột của anh Huỳnh Hồng T, từ nhỏ anh T đã sinh sống cùng cha mẹ tại địa chỉ: Số 391, đường B, tổ 38, khóm B, Phường 4, thành phố C, tỉnh Đ. Đến năm 2023 mẹ anh T là bà Trương Thị Ú đã mất vào năm 2023. Nay anh T sống với ông Huỳnh Văn L và chị ruột tên Huỳnh Ngọc M. Ông Huỳnh Văn L là người trực tiếp chăm sóc anh Huỳnh Hồng T, anh T được nhận trợ cấp hàng tháng số tiền 750.000 đồng. Tiền trợ cấp hàng tháng do ông L nhận để lo cho anh T. Ông L cam kết ngoài ông L ra thì anh T không còn ai là người thân thuộc hàng thừa kế thứ nhất, từ nhỏ anh T đã bị khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi nên anh T không có vợ, không có con.

Hiện tại, ông L và gia đình cần làm thủ tục chia thừa kế, căn cứ vào Kết luận của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực Tây Nam Bộ, kết luận anh Huỳnh Hồng T, sinh năm 1988 là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Do đó, ông Huỳnh Văn L yêu cầu Tòa án tuyên bố Huỳnh Hồng T là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định ông Huỳnh Văn L là người giám hộ để ông L thực hiện nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ theo quy định tại điểm c, d khoản 1 Điều 57 Bộ luật dân sự, quy định “Quản lý tài sản của người được giám hộ; Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ” và thực hiện quyền của người giám hộ đối với người được giám hộ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 58 Bộ luật dân sự “Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ”.

Các chị em của Huỳnh Hồng T không có tranh chấp về việc giám hộ và cử người giám hộ.

- Chị Huỳnh Thị Ngọc H, chị Huỳnh Ngọc M, chị Huỳnh Thị Thu Tr, chị Huỳnh Thị N và chị Huỳnh Thị H thống nhất trình bày: Chị H, chị M, chị Tr, chị N và chị H đều là chị ruột của anh Huỳnh Hồng T. Anh T là em út trong gia đình, từ nhỏ anh T đã khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Mẹ ruột của anh T là bà Trương Thị Ú đã mất vào năm 2023, anh T không có vợ con. Ngoài 05 chị em gái nêu trên thì anh T không có anh chị em ruột, anh chị em nuôi nào khác.

Nay cha ruột là ông Huỳnh Văn L yêu cầu Tòa án tuyên bố Huỳnh Hồng T có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định ông Huỳnh Văn L là người giám hộ để ông L thực hiện nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ theo theo quy định tại điểm c, d khoản 1 Điều 57 Bộ luật dân sự, quy định “Quản lý tài sản của người được giám hộ; Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ” và thực hiện quyền của người giám hộ đối với người được giám hộ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 58 Bộ luật dân sự “Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ”. Chị H, chị M, chị Tr, chị N và chị H đều thống nhất và không có tranh chấp về việc giám hộ và cử người giám hộ.

Tại phiên họp,

- Ông L trình bày: Anh Huỳnh Hồng T là con ruột của ông L từ nhỏ anh T đã khờ khạo, mỗi tháng anh T đều có hưởng trợ cấp tại địa phương, hiện tại anh T đang sinh sống cùng ông L và do ông L chăm sóc anh T. Căn cứ vào kết luận giám định tâm thần ông L yêu cầu Tòa án tuyên bố Huỳnh Hồng T có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Ông L đủ điều kiện và là người giám hộ đương nhiên của anh T nên đề nghị Tòa án chấp nhận chỉ định ông Huỳnh Văn L là người giám hộ cho anh T để ông L thực hiện quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ theo quy định tại điểm c, d khoản 1 Điều 57 và điểm c khoản 1 Điều 58 Bộ luật dân sự.

- Những người có quyền lợi, nghịa vụ liên quan: Chị Huỳnh Ngọc M, chị Huỳnh Thị Thu Tr và chị Huỳnh Thị H có mặt tại phiên họp đều thống nhất yêu cầu của ông L và đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của ông L, không ai có yêu cầu, ý kiến tranh chấp gì về việc ông L là người giám hộ cho anh T.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thu thập chứng cứ, từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên họp, Thẩm phán đã tiến hành đúng với quy định của Bộ luật tống tụng dân sự. Tại phiên họp, Thẩm phán đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên họp thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Huỳnh Văn L.

Tuyên bố anh Huỳnh Hồng T, sinh năm 1988; Nơi thường trú: Số 391, đường B, tổ 38, khóm B, Phường 4, thành phố C, tỉnh Đ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Công nhận ông Huỳnh Văn L là người giám hộ cho anh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp nhận định:

Về tố tụng: Theo đơn yêu cầu của ông Huỳnh Văn L, yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Huỳnh Hồng T là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Căn cứ vào khoản 1 Điều 27, khoản 2 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Yêu cầu của ông Huỳnh Văn L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Xét yêu cầu của người yêu cầu: Ông Huỳnh Văn L yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Huỳnh Hồng T, sinh năm 1988; Nơi thường trú: Số 391, đường B, tổ 38, khóm B, Phường 4, thành phố C, tỉnh Đ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Căn cứ vào Công văn số 1237/UBND ngày 29/11/2024 của Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố C, tỉnh Đ xác định anh Huỳnh Hồng T đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người khuyết tật nặng và Kết luận giám định pháp y tâm thần số: 240/2024/KLGĐYC, ngày 18/6/2024 của Trung y học: Hiện tại, đương sự có bệnh lý tâm thần; Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hiện tại, đương sự có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Bộ luật dân sự quy định: “Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ”.

Như vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 23 của Bộ luật dân sự năm 2015 yêu cầu của ông Huỳnh Văn L là có căn cứ nên chấp nhận.

Căn cứ vào Giấy khai sinh và xác nhận nhân thân của anh T cùng các tài liệu, chứng cứ khác có cơ sở xác định ông Huỳnh Văn L cha ruột của anh Huỳnh Hồng T và ông L là người giám hộ đương nhiên của anh T, các chị của anh T đều thống nhất với yêu cầu của ông L và không có tranh chấp gì đối với việc chỉ định người giám hộ cho anh T.

Do đó căn cứ vào quy định tại Điều 53 của Bộ luật dân sự, Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông L, ông L được chỉ định là người giám hộ cho anh T. Ông L được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại điểm c, d khoản 1 Điều 57, điểm c khoản 1 Điều 58 Bộ luật dân sự.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp hôm nay là có căn cứ chấp nhận.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Huỳnh Văn L là người cao tuổi và có đơn xin miễn lệ phí nên ông L được miễn lệ phí theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 23, Điều 46, Điều 47, Điều 53, 57, 58 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 370, Điều 376, Điều 378 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Huỳnh Văn L, về việc yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Tuyên bố: Anh Huỳnh Hồng T, sinh năm 1988; Nơi thường trú: Số 391, đường B, tổ 38, khóm B, Phường 4, thành phố C, tỉnh Đ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

2. Ông Huỳnh Văn L là người giám hộ cho anh Huỳnh Hồng T. Ông Huỳnh Văn L được thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người giám hộ được quy định tại c, d khoản 1 Điều 57; điểm c khoản 1 Điều 58 của Bộ luật dân sự năm 2015.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Huỳnh Văn L là người cao tuổi và có đơn xin miễn lệ phí nên ông L được miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ