- Tranh chấp gì? "Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Trọng T;
- Căn cứ chính? Luật Đất đai; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số 08/2024/QĐ-PT | Hà Nội, ngày 22 tháng 01 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Ngô Tự Học.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Mạnh Tiến;
Ông Phạm Việt Hà.
Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Đặng Thị Cẩm Ly, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Quang Hưng, Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 31/2023/QĐST-HC ngày 28/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã căn cứ khoản 5 Điều 38, Điều 116, điểm g khoản 1 Điều 143 và Điều 144 Luật tố tụng hành chính, Luật đất đai năm 2013, Luật khiếu nại năm 2011, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, giữa các đương sự:
* Người khởi kiện: Ông Nguyễn Trọng T, sinh năm 1958; địa chỉ: thôn Dương Đ, xã Dương X, huyện Gia L, thành phố Hà Nội.
* Người bị kiện: Ủy ban nhân dân quận Long B.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị Th (đã chết ngày 25/12/2016); địa chỉ: Tổ 13, phường Thạch B, quận Long B1, thành phố Hà Nội;
2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962; địa chỉ: Tổ 13 phường Bạch Đ, quận Long B1, thành phố Hà Nội.
Tại đơn kháng cáo ngày 14/3/2023, người khởi kiện ông Nguyễn Trọng T không đồng ý với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 31/2023/QĐST-HC ngày 28/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
XÉT THẤY:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/02/2017, ông Nguyễn Trọng T khởi kiện yêu cầu Tòa án:
1. Hủy Quyết định số 3527/QĐ-UBND ngày 08/5/2015 của UBND quận Long B1 về việc công nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (cho bà Nguyễn Thị Th là mẹ vợ của ông Nguyễn Trọng T đối với 80m2 đất ở đô thị trên có 38m2 nhà tường gạch 1 tầng tại thửa đất số 29 tờ số 20 bản đồ năm 1993 tổ 13 phường Thạch B).
2. Hủy Thông báo số 784/TB-UBND ngày 09/9/2015 của UBND quận Long B1 về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại (của ông Nguyễn Trọng T về việc UBND quận Long B1 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất mà vợ chồng ông mua của gia đình ông Hoàng Văn Th nhưng không có giấy tờ từ năm 1992 cho bà Nguyễn Thị Th là không đúng) do không đủ điều kiện để thụ lý giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật khiếu nại 2011 (quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại).
3. Buộc UBND phường Thạch B bồi thường thiệt hại do đã đập phá, tháo dỡ các công trình, nhà cửa của gia đình ông trong các năm 2004, 2005, 2007, 2008.
Ngày 04/5/2017, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã thụ lý vụ án số 161/2017/TLST-HC đối với đối với yêu cầu khởi kiện của ông T.
Sau khi Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý vụ án, ông Nguyễn Trọng T có Đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện đề ngày 31/5/2017, đề nghị Tòa án:
1. Hủy Quyết định số 101/QĐ-UBND ngày 30/8/2008 của UBND phường Thạch B về việc đình chỉ thi công xây dựng công trình vi phạm TTXD (tại tổ 13, phường Thạch B do bà Nguyễn Thị L - vợ ông Nguyễn Trọng T làm chủ đầu tư).
2. Tuyên hành vi hành chính của UBND phường Thạch B đập phá, tháo dỡ tài sản của gia đình ông Nguyễn Trọng T ngày 06/11/2004 và các lần tiếp theo là trái pháp luật.
3. Buộc UBND phường Thạch B bồi thường thiệt hại 860.000.000 đồng do đã đập phá, tháo dỡ tài sản của gia đình ông Nguyễn Trọng T trong các năm 2004, 2005, 2007, 2008.
Tại Bản tự khai ngày 31/5/2017, ông Nguyễn Trọng T yêu cầu khởi kiện bổ sung gồm:
1. Buộc UBND quận Long B1 làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông.
2. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Nguyễn Thị Th đối với nhà đất tại tổ 13, phường Thạch B.
Xét yêu cầu khởi kiện ban đầu của ông Nguyễn Trọng T đối với Quyết định số 3527/QĐ-UBND ngày 08/5/2015 và Thông báo số 784/TB-UBND ngày 09/9/2015 của UBND quận Long B1:
Thông báo 784/TB-UBND của UBND quận Long B1 về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại ban hành ngày 09/9/2015 nên xác định đơn khiếu nại ông Nguyễn Trọng T gửi đến UBND thành phố Hà Nội vào các ngày 22/7/2015 và 13/8/2015 thể hiện tại đơn khởi kiện là khiếu nại đối với việc UBND quận Long B1 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Th tại Quyết định số 3527/QĐ-UBND ngày 08/5/2015, không phải khiếu nại đối với Thông báo số 784/TB-UBND ngày 09/9/2015 của UBND quận Long B1.
Tại B1 bản làm việc ngày 15/3/2017 và B1 bản ghi lời khai ngày 08/11/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, ông Nguyễn Trọng T xác định ông nhận được Quyết định số 3527/QĐ-UBND ngày 08/5/2015 của UBND quận Long B1 vào tháng 7/2015 và nhận được Thông báo số 784/TB-UBND ngày 09/9/2015 của UBND quận Long B1 vào tháng 10/2015.
Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính thì thời hiệu khởi kiện của ông Nguyễn Trọng T đối với Quyết định số 3527/QĐ-UBND ngày 08/5/2015 và Thông báo số 784/TB-UBND ngày 09/9/2015 của UBND quận Long B1 là 01 năm kể từ ngày ông T nhận được Thông báo số 784/TB-UBND ngày 09/9/2015 là ngày 31/10/2015. Như vậy đến hết ngày 31/10/2016 ông Nguyễn Trọng T không khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm thì ông Nguyễn Trọng T mất quyền khởi kiện.
Trong đơn khởi kiện thể hiện ông Nguyễn Trọng T gửi đơn đến Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ tư pháp vào các ngày 04/4/2016 và ngày 19/4/2016 nhưng không rõ là đơn khiếu nại đối với Quyết định số 3527/QĐ-UBND ngày 08/5/2015 hay Thông báo số 784/TB-UBND ngày 09/9/2015 của UBND quận Long B1.
Cũng trong đơn khởi kiện, ông Nguyễn Trọng T khai Bộ Tài nguyên và Môi trường có Văn bản số 275 ngày 12/7/2016 hướng dẫn ông gửi đơn đến UBND quận Long B1 hoặc Tòa án nhân dân quận Long B1 để được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại B1 bản làm việc ngày 15/3/2017 và B1 bản ghi lời khai ngày 08/11/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, ông Nguyễn Trọng T đều có lời khai sẽ nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ về việc gửi đơn khiếu nại nhưng cho đến khi Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết vụ án thì ông T vẫn không giao nộp tài liệu, chứng cứ về việc gửi đơn khiếu nại.
Như vậy, ông Nguyễn Trọng T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ về việc ông T gửi đơn khiếu nại Thông báo số 784/TB-UBND ngày 09/9/2015 của UBND quận Long B1 tới Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội nhưng hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật mà Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội không giải quyết và UBND thành phố Hà Nội không có văn bản trả lời để xác định thời hiệu khởi kiện của ông Nguyễn Trọng T theo quy định tại khoản 3 Điều 116 Luật tố tụng hành chính.
Việc ông Nguyễn Trọng T gửi đơn khiếu nại đến nhiều nơi mà không được xem xét giải quyết, trả lời và việc ông Nguyễn Trọng T bị mất 81% sức lao động do di chứng bại liệt teo cơ chân trái đi lại yếu theo B1 bản giám định khả năng lao động số 77/GĐYK-SK ngày 04/11/2003 của Hội đồng giám định y khoa Hà Nội không phải là sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác theo quy định tại khoản 13, 14 Điều 3 Luật tố tụng hành chính nên trong thời gian từ ngày 31/10/2015 đến ngày 31/10/2016 ông T không gặp sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho ông T không khởi kiện được trong thời hạn.
Ngày 15/02/2017, ông Nguyễn Trọng T trực tiếp nộp đơn khởi kiện đề ngày 15/02/2017 tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xác định thời hiệu khởi kiện của ông Nguyễn Trọng T đối với Quyết định số 3527/QĐ-UBND ngày 08/5/2015 và Thông báo số 784/TB-UBND ngày 09/9/2015 của UBND quận Long B1 đã hết nên đã căn cứ điểm g khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính, đình chỉ giải quyết các yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trọng T là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về việc bổ sung yêu cầu khởi kiện:
[6.1] Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật tố tụng hành chính, ông Nguyễn Trọng T có thể đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại do quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện gây ra. Tại đơn khởi kiện ông Nguyễn Trọng T không yêu cầu bồi thường thiệt hại do Quyết định số 3527/QĐ-UBND ngày 08/5/2015 và Thông báo số 784/TB-UBND ngày 09/9/2015 của UBND quận Long B1 gây ra mà yêu cầu UBND phường Thạch B bồi thường thiệt hại do đã đập phá, tháo dỡ các công trình, nhà cửa của gia đình ông trong các năm 2004, 2005, 2007, 2008 nên không được Tòa án thụ lý giải quyết là có căn cứ, đúng pháp luật.
Yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông Nguyễn Trọng T đối với hành vi hành chính của UBND phường Thạch B đập phá, tháo dỡ tài sản của gia đình ông ngày 06/11/2004 và các lần tiếp theo; Quyết định số 101/QĐ-UBND ngày 30/8/2008 của UBND phường Thạch B về việc đình chỉ thi công xây dựng công trình vi phạm TTXD; buộc UBND quận Long B1 làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Nguyễn Trọng T là vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội không chấp nhận thụ lý bổ sung để giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Luật tố tụng hành chính.
Mặt khác, ông Nguyễn Trọng T đã mất quyền khởi kiện đối với hành vi hành chính của UBND phường Thạch B đập phá, tháo dỡ tài sản của gia đình ông ngày 06/11/2004, các lần tiếp theo và Quyết định số 101/QĐ-UBND ngày 30/8/2008 của UBND phường Thạch B về việc đình chỉ thi công xây dựng công trình vi phạm TTXD do đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính.
Yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông Nguyễn Trọng T về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn Thị Th có liên quan và trong phạm vi khởi kiện ban đầu nhưng cũng hết thời hiệu khởi kiện.
Từ những nhận định nêu trên, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội căn cứ khoản 5 Điều 38, Điều 116, điểm g khoản 1 Điều 143, Điều 144 Luật tố tụng hành chính, ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 31/2023/QĐST-HC ngày 28/02/2023 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Người khởi kiện ông Nguyễn Trọng T kháng cáo là không có căn cứ chấp nhận.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 5 Điều 243 Luật tố tụng hành chính, không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 31/2023/QĐST-HC ngày 28/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Về án phí: Ông Nguyễn Trọng T là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 243 Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu hộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Trọng T;
Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 31/2023/QĐST-HC ngày 28 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
2. Về án phí: Miễn án phí hành chính phúc thẩm cho ông Nguyễn Trọng T.
3. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND Tp Hà Nội; - VKSND Tp Hà Nội; - Cục THADS Tp Hà Nội; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu: HCTP, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Ngô Tự Học |