vanban.org

Quyết định 08/2023/QĐ-TA

TAND huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 01/03/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Ma Đình T; giới tính: Nam; sinh ngày 15/8/1996.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 01 năm 10 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị đề nghị Ma Đình T có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định. Cơ quan đề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Ma Đình T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Ma Đình T; giới tính: Nam; sinh ngày 15/8/1996.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Luật Phòng, chống ma túy; Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hàn…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHIÊM HÓA
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 08/2023/QĐ-TAChiêm Hóa, ngày 01 tháng 3 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG

* Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Lê Tuấn Tú.

2. Thư ký phiên họp: Bà Hứa Thị Hanh.

Ngày 01 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số 08/QĐ-TA ngày 21 tháng 02 năm 2023 đối với:

Họ và tên: Ma Đình T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 15 tháng 8 năm 1996.

CCCD số: xxxxxxxxxxxx; ngày cấp 27/9/2021; nơi cấp: Cục CSQLHC về trật tự xã hội, Bộ công an.

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 06/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; con ông Ma Đình M và bà Đào Thị P.

Tiền sự:

+ 01 tiền sự về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

+ Ngày 09/11/2023 bị Chủ tịch UBND xã T ra Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình với thời hạn 06 tháng.

Nhân thân: Năm 2019 bị Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố H ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 51/2019/QĐ-TA ngày 08/8/2019.

Vắng mặt tại phiên họp.

* Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nông Quốc Tuấn - Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

2. Đại diện Viện kiểm sát: Ông Đặng Trung Hiếu - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

NHẬN THẤY:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc, hành vi vi phạm của Ma Đình T được tóm tắt như sau: Ma Đình T là người sử dụng ma túy từ tháng năm 2019; ngày 09/01/2023 T bị áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình với thời hạn 06 tháng theo Quyết định số 01/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND xã T, huyện C. Ngày 02/02/2023 Công an xã T, huyện C tiến hành xét nghiệm đối với Ma Đình T, kết quả: (+) Dương tính (có chất ma túy trong cơ thể T). Căn cứ vào kết quả xét nghiệm nêu trên, cùng ngày 02/02/2023, Công an xã T, huyện C đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với Ma Đình T.

Ngày 17/02/2023, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C đã có Văn bản số 09/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Tuyên Quang đối với Ma Đình T.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C giữ nguyên nội dung đề nghị Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Tuyên Quang với thời gian là từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 10 tháng theo quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính đối với Ma Đình T.

Người bị đề nghị Ma Đình T vắng mặt tại phiên họp, tại bản tường trình, biên bản lấy lời khai thể hiện: T sử dụng ma túy từ năm 2019, dẫn đến nghiện ma túy, tháng 8 năm 2019 đã bị Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố H ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; ngày 09/01/2023 Thu bị áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình. Khoảng 13 giờ, ngày 25/01/2023, T đi chơi ở khu vực ngã ba thuộc xã P, huyện V, tỉnh Y mua được với một người đàn ông không biết tên, địa chỉ 01 gói nhỏ Heroine với giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), mua được ma túy T sử dụng hết bằng cách đốt hít vào cơ thể. Đến ngày 02/02/2023, Ma Đình T được Công an xã T tiến hành xét nghiệm nước tiểu tìm chất ma túy, kết quả: (+) Dương tính, có chất ma túy trong cơ thể T, T công nhận kết quả trên là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Thẩm phán, Thư ký tuân thủ đúng quy định pháp luật trong việc tiến hành các thủ tục mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; đề nghị Tòa án nhân dân huyện C chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động

- Thương binh và Xã hội huyện C, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ma Đình T.

Người bị đề nghị Ma Đình T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án tiến hành mở phiên họp xem xét, giải quyết vắng mặt đối với Ma Đình T theo quy định của pháp luật.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:

Các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ma Đình T gồm có: Biên bản vi phạm hành chính, phiếu xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể, bản tường trình, biên bản ghi lời khai và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã đầy đủ, phù hợp với quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy.

Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm;các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của Ma Đình T:

Ma Đình T là người sử dụng ma túy từ năm 2019; tháng 8 năm 2019 đã bị Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố H ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; ngày 09/01/2023 T bị áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình với thời hạn 06 tháng theo Quyết định số 01/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND xã T, huyện C thời hạn từ ngày 09/01/2023 đến ngày 09/7/2023.

Ngày 25/01/2023 T tiếp tục sử dụng ma túy bằng cách đốt hít vào cơ thể. Ngày 02/02/2023 Công an xã T, huyện C tiến hành xét nghiệm đối với Ma Đình T, kết quả: (+) Dương tính (có chất ma túy trong cơ thể T).

Ma Đình T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính, biết việc sử dụng trái phép chất ma tuý là vi phạm nhưng vẫn cố tình thực hiện nhằm thoả mãn cơn nghiện. T biết tác hại của ma tuý đối với trạng thái thần kinh, sức khoẻ con người, sử dụng ma tuý còn làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình và an ninh trật tự, an toàn xã hội. Đang trong thời gian cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, nhưng vẫn tiếp tục sử dụng chất ma túy cho thấy T không chấp hành quy định của pháp luật và không thể tự cai nghiện tại nơi cư trú. Căn cứ Điều 95 của Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 49 Điều 1 Luật số 67/2020/QH14 ngày 13/11/2020 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian nhất định mới có đủ tác dụng cai nghiện đối với Ma Đình T.

Tuy Ma Đình T tự nguyện khai báo, nhưng không chấp hành thông báo của Tòa án, không đến tham gia phiên họp. T không có tiền án; có tiền sự: Về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 09/01/2023 bị Chủ tịch UBND xã T ra Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình với thời hạn 06 tháng. Có nhân thân xấu: Năm 2019 bị Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố H ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Vì vậy khi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ma Đình T cần xem xét áp dụng mức thời gian cho phù hợp.

Về ý kiến của người tham gia phiên họp; lý do, căn cứ và sự cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Ma Đình T:

Căn cứ vào nhân thân, tiền án, tiền sự, các tình tiết giảm nhẹ, tính chất, mức độ hậu quả của hành vi vi phạm của Ma Đình T, Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa xét thấy quan điểm đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Chiêm Hóa là cần thiết và có căn cứ chấp nhận. Do vậy, căn cứ vào các Điều 95, 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ma Đình T với thời gian trên mức khởi điểm được quy định tại khoản 2 Điều 95 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị: Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện C có quyền kháng nghị quyết định theo quy định tại các Điều 31, 32, 33 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ các Điều 95, 105, 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 49 Điều 1 Luật số 67/2020/QH14 ngày 13/11/2020 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ các Điều 23, 31, 32, 33 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ quốc hội Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Ma Đình T; giới tính: Nam; sinh ngày 15/8/1996. Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 01 năm 10 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị đề nghị Ma Đình T có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định. Cơ quan đề nghị được quyền kiến nghị; Viện kiểm sát được quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an huyện Chiêm Hóa chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Chiêm Hóa đưa Ma Đình T đi thi hành Quyết định tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Tuyên Quang (địa chỉ tại: Thôn An Lộc A, xã An Khang, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang).

Cỡ chữ