- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "L - Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Trần Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 391 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 392 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 08/2022/QĐST-VDS | Trực Ninh, ngày 28 tháng 9 năm 2022. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
“V/v: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Chu Thái Hà.
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thanh Hiếu – Thư ký TAND huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Thanh Tùng- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 06/2022/TLST-VDS ngày 11 tháng 05 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2022/QĐST-VDS ngày 21 tháng 09 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Trần Thị L, sinh năm 1983, nơi cư trú: Đội 8 TDP P, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1979, nơi cư trú cuối cùng: Đội 8 TDP P, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định.
Tại phiên họp: Chị L có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu, tại bản tự khai, người yêu cầu là chị Trần Thị L trình bày:
Chồng chị là anh Trần Văn Đ, sinh năm 1979, có CMND xxxxxxxxx, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: TDP P, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định. Chồng chị đi làm vận tải đường thuỷ từ Sài Gòn ra Quảng Bình gặp nạn từ tháng 12 năm 2014. Từ đó đến nay, gia đình chị đã tìm kiếm nhiều lần bằng mọi hình thức nhưng không có kết quả. Nay chị đề nghị TAND huyện Trực Ninh tuyên bố anh Trần Văn Đ, sinh năm 1979, nơi cư trú cuối cùng: Đội 8 TDP P, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định là đã chết để đảm bảo quyền và lợi ích của chị và các con theo quy định pháp luật.
Tại biên bản lấy lời khai của ông Trần Công Đ1 và bà Trần Thị L1 là bố mẹ đẻ của anh Trần Văn Đ trình bày:
Ông bà đều xác nhận anh Trần Văn Đ đi làm vận tải đường thuỷ từ Sài Gòn ra Quảng Bình gặp nạn từ tháng 12 năm 2014. Từ đó đến nay, gia đình ông đã tìm kiếm nhiều lần bằng mọi hình thức nhưng không có kết quả. Nay chị Trần Thị L là vợ anh Trần Văn Đ có đơn yêu cầu TAND huyện Trực Ninh tuyên bố anh Trần Văn Đ là đã chết. Ông bà đề nghị Tòa án xem xét giải quyết yêu cầu của chị L theo quy định pháp luật.
Đại diện VKSND huyện Trực Ninh tại phiên họp có quan điểm đề nghị:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, xác minh sự vắng mặt của anh Đ tại địa phương, thông báo tìm kiếm anh Đ trên các phương tiện thông tin đại chúng đảm bảo các quy định của pháp luật. Việc Tòa án quyết định mở phiên họp vào ngày 28 tháng 9 năm 2022 đúng thời hạn theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự đúng quy định tại Điều 70 BLTTDS.
Việc Tòa án mở phiên họp vắng mặt Người yêu cầu giải quyết việc dân sự khi có đơn xin vắng mặt là đúng quy định tại Điều 367 BLTTDS.
Căn cứ các Điều 68; 71; 72 BLDS, Điều 391; 392; 393 BLTTDS: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị L về việc yêu cầu tuyên bố anh Trần Văn Đ là đã chết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện VKSND huyện Trực Ninhtại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh nhận định:
Về tố tụng: Anh Trần Văn Đ là người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết có nơi cư trú cuối cùng tại TDP P, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Trực Ninh theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 39 của BTTDS.
Chị Trần Thị L là vợ của anh Trần Văn Đ nên chị L là người có quyền yêu cầu tuyên bố anh Đ là đã chết theo quy định tại Điều 391 BLTTDS.
Về nội dung yêu cầu Tòa án giải quyết:
Anh Trần Văn Đ là chồng chị Trần Thị L làm nghề vận tải đường thuỷ từ Sài Gòn ra Quảng Bình đã gặp nạn từ tháng 12 năm 2014. Từ đó đến này, gia đình chị L đã tìm kiếm nhiều lần bằng nhiều hình thức nhưng không có kết quả. Nay chị L đề nghị TAND huyện Trực Ninh tuyên bố anh Trần Văn Đ, sinh năm 1979, nơi cư trú cuối cùng: Đội 8 TDP P, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định là đã chết để đảm bảo quyền và lợi ích của chị và các con theo quy định pháp luật.
Sau khi thụ lý đơn yêu cầu của chị L, TAND huyện Trực Ninh đã ra quyết định thông báo tìm anh Đ trên các phương tiện thông tin đại chúng. Cụ thể là Đài tiếng nói Việt Nam, báo Công Lý, Cổng thông tin điện tử của TAND tỉnh Nam Định. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát đầu tiên thông báo tìm kiếm của Tòa án nhưng vẫn không có tin tức gì của anh Đ.
Chính quyền địa phương cũng cho biết anh Đ đã đi biệt tích khỏi địa phương từ khoảng tháng 12 năm 2014, địa phương cũng không biết hiện nay anh Đ ở đâu.
Anh Đ đã biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống. Do vậy việc chị Trần Thị L có đề nghị tuyên bố anh Đ đã chết là phù hợp với các quy định tại các điều 68;71; 72;146 BLDS và các điều 391; 392; 393 của BTTDS, yêu cầu của chị Trần Thị L về việc yêu cầu tuyên bố anh Trần Văn Đ đã chết là có căn cứ, được Tòa án chấp nhận.
Về thời điểm xác định anh Trần Văn Đ biệt tích: Theo chị L trình bày và qua xác minh tại chính quyền địa phương thì anh Đ đi khỏi địa phương từ khoảng tháng 12 năm 2014. Căn cứ Điều 68, điểm d khoản 1 điều 71 của BLDS thời điểm anh Đ biệt tích được xác định là ngày 01/01/2015. Do đó ngày chết của anh Đ là ngày 01/01/2020.
Về hậu quả pháp lý của việc anh Trần Văn Đ bị tuyên bố là đã chết: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố anh Đ là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân và gia đình, các quan hệ nhân thân khác, quan hệ về tài sản của anh Đ được giải quyết như đối với người đã chết, tài sản của anh Đ được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Trần Thị L phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 68; 71; 72;146 của Bộ luật dân sự; Điều 391; 392; 393 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng về án phí và lệ phí Toà án:
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Trần Thị L.
Tuyên bố anh Trần Văn Đ, sinh năm 1979, nơi cư trú trước khi biệt tích: TDP P, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định là người đã chết. Ngày chết của anh Trần Văn Đ là ngày 01/01/2020.
2. Quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của anh Trần Văn Đ được thực hiện theo quy định tại Điều 72 Bộ luật Dân sự.
3. Lệ phí: Chị Trần Thị L phải nộp 300.000 đồng, được trừ vào khoản đã nộp tạm ứng lệ phí 300.000đ nộp tại biên lai thu số 0001973 ngày 11 tháng 05 năm 2022 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định (Chị L đã nộp xong lệ phí dân sự sơ thẩm).
Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định giải quyết việc dân sự hoặc quyết định giải quyết việc dân sự được tống đạt hợp lệ.
VKSND huyện Trực Ninh có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, VKSND cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định giải quyết việc dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo các Điều 6, Điều7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Trực Ninh; - Các đương sự; - UBND thị trấn C; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký và đóng dấu) Chu Thái Hà |