vanban.org

Quyết định 08/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Y.

Tuyên bố ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1966, nơi cư trú: Khóm 0, phường 00, thành phố C, tỉnh Cà Mau là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Khóm 0, phường 00, thành phố C, tỉnh Cà Mau là người giám hộ của ông Nguyễn Văn B. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "NGuyễn V Y - NGuyễn T B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Y.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:08/2022/QĐST-DSTP.Cà Mau, ngày 19 tháng 9 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Trần Thị Kiều Trang

Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Cúc – Thư ký Toà án, Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên họp: Ông Đoàn Đắc Bắc – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 08/2022/TLST-DS ngày 18 tháng 8 năm 2022 về việc: Yêu cầu tuyên bố một người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 04/2022/QĐST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1969 (Có mặt)

Địa chỉ: Nhà không số, đường T, khóm 0, phường 00,thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1966

- Chị Nguyễn Thị P T, sinh năm 1994 (Xin vắng mặt)

- Chị Nguyễn Thị N B, sinh năm 1998 (Xin vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Nhà không số, đường T, khóm 0, phường 00, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

- Chị Nguyễn Thị T T, sinh năm 1992 (Có mặt)

Địa chỉ: số 00, N, khóm 0, phường 9, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Văn Bái: Luật sư Tăng Tấn L – Thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cà Mau (Có mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Bà Nguyễn Thị Yên trình bày: Ông Nguyễn Văn B là chồng của bà và hiện đang sống cùng gia đình tại khóm 0, phường 00, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Các con ruột gồm: Nguyễn Thị P T, Nguyễn Thị N B và Nguyễn Thị T T. Hiện nay, ông Nguyễn Văn B bị bệnh tâm thần, khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi của mình, mọi hoạt động sinh hoạt của ông B không thể tự làm mà phải nhờ người khác giúp đỡ. Gia đình có làm thủ tục giám định pháp y tâm thần cho ông B và tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo yêu cầu số 257/2022/KLGĐYC của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ kết luận tình trạng năng lực hành vi dân sự của ông Nguyễn Văn B như sau:

- Về y học: Hiện tại đương sự có bệnh lý tâm thần: Tâm thần phân liệt thể không biệt định (F20.3 – ICD10), giai đoạn bệnh thuyên giảm.

- Về năng lực: Hiện tại đương sự có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Do đó, bà Nguyễn Thị Y yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn B có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và đồng thời chỉ định bà làm người giám hộ cho ông B.

Tại các văn bản nêu ý kiến thành viên trong gia đình thể hiện chị Nguyễn Thị P T, chị Nguyễn Thị N B và chị Nguyễn Thị T T thống nhất với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Y và yêu cầu Tòa án chỉ định bà Nguyễn Thị Y là người giám hộ hợp pháp của ông Nguyễn Văn B theo quy định pháp luật.

Tại phiên họp:

- Bà Nguyễn Thị Y vẫn giữ nguyên yêu cầu giải quyết việc dân sự. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn B thống nhất với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Y và đề nghị Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Y, tuyên bố ông Nguyễn Văn B là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định bà Nguyễn Thị Y làm người giám hộ cho ông B theo quy định.

- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ việc và lời trình bày của bà Nguyễn Thị Yên tại phiên họp, có đủ căn cứ để xác định ông Nguyễn Văn B là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Do đó đề nghị Tòa án căn cứ vào Điều 23 của Bộ luật Dân sự; Các Điều 376, 378 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Y. Lệ phí việc dân sự đề nghị xử lý theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Toà án nhân dân thành phố Cà Mau nhận định:

Việc bà Nguyễn Thị Y yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Văn B là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, đồng thời yêu cầu chỉ định bà Y là người giám hộ cho ông B thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Đối với chị Nguyễn Thị P T, chị Nguyễn Thị N B có yêu cầu xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt chị chị T và chị B theo quy định.

Xét yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Văn B là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, thấy rằng: Tại kết luận giám định pháp y tâm thần số 257/2022/KLGĐYC của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ kết luận tình trạng năng lực hành vi dân sự của ông Nguyễn Văn B như sau:

- Về y học: Hiện tại đương sự có bệnh lý tâm thần: Tâm thần phân liệt thể không biệt định (F20.3 – ICD10), giai đoạn bệnh thuyên giảm.

- Về năng lực: Hiện tại đương sự có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Y, tuyên bố ông Nguyễn Văn B là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Đối với việc giám hộ cho ông Nguyễn Văn B: Ông B có vợ tên Nguyễn Thị Y và các con gồm: Nguyễn Thị P T, Nguyễn Thị N B và Nguyễn Thị T T. Hiện đang sống cùng gia đình tại khóm 0, phường 00, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Tại các văn bản nêu ý kiến của các thành viên trong gia đình, thống nhất để bà Nguyễn Thị Y là người giám hộ hợp pháp của ông B theo quy định pháp luật. Do đó, bà Y có đủ các điều kiện là người giám hộ cho ông B và chỉ định bà Nguyễn Thị Y làm người giám hộ cho ông B là phù hợp. Bà Y thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

Về lệ phí việc dân sự sơ thẩm, bà Yên phải chịu theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 23, 46, 54, 57, 58, 59 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 27, Điều 35 và các Điều 376, 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Y.

Tuyên bố ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1966, nơi cư trú: Khóm 0, phường 00, thành phố C, tỉnh Cà Mau là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

2. Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Khóm 0, phường 00, thành phố C, tỉnh Cà Mau là người giám hộ của ông Nguyễn Văn B.

Bà Nguyễn Thị Y có các quyền và nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại các Điều 57, 58, 59 của Bộ Luật dân sự.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000 đồng. Ngày 17/8/2022 có nộp tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau theo biên lai thu số 0001915 được đối trừ, chuyển thu.

Các đương sự có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Các đương sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết quyết định theo quy định.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ