vanban.org

Quyết định 08/2022/HSST-QĐ — Hình sự

TAND huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 10/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2021/TLST-HS ngày 20/01/2022 đối với bị can Trần Xuân N, Cao Xuân T.

Bị truy tố về tội “cố ý gây thương tích” Cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trả hồ sơ điều tra bổ sung - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2021/TLST-HS ngày 20/01/2022 đối với bị can Trần Xuân N, Cao Xuân T.
  • Căn cứ chính? Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 45 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MINH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG BÌNH
Số: 08/2022/HSST-QĐ
Minh Hóa, ngày 10 tháng 02 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

TRẢ HỒ SƠ ĐIỀU TRA BỔ SUNG

(lần thứ 01)

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

Căn cứ Điều 45, 277 và 280 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ án lệ số 47/2021/AL về việc xác định tội danh trong trường hợp bị cáo dùng hung khí nguy hiểm đâm vào vùng trọng yếu của cơ thể bị hại;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2021/TLST-HS ngày 20/01/2022.

Xét thấy: có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng; xác định sai tội danh dẫn đến có sự thay đổi thẩm quyền xét xử vụ án.

QUYẾT ĐỊNH:

Trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2021/TLST-HS ngày 20/01/2022 đối với bị can Trần Xuân N, Cao Xuân T.

Bị truy tố về tội “cố ý gây thương tích”

Cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình

Để điều tra bổ sung những vấn đề sau đây:

1. Về nội dung vụ án: giữa bị can N và anh L không có mẫu thuẫn gì trầm trọng, N nghi ngờ anh L nhổ cây Keo của nhà N và anh L bắt anh N phải xin lỗi nên đã rủ T đến nhà của L để giải quyết mâu thuẫn, khi đi thì N đã chuẩn bị con dao (con dao dài 27 cm loại dao thường dùng để thái rau và thức ăn), T chuẩn bị dây thắt lưng, mục đích của N là đến để đánh L nếu L bắt N xin lỗi (BL 96, 101).

Khi đến nhà của L, N hỏi L vì sao bắt N xin lỗi, L giải thích, N nói lại “tao không thể xin lỗi mi”, nói xong N xong vào đấm một phát vào đầu của anh L nhưng L né được, N rút dao ra chém anh L thì anh L giơ tay phải lên đỡ được làm con dao trượt cắt vào mu bàn tay, N đã thỏa mãn được mục đích gây thương tích cho nạn nhân (việc đánh L để giải tỏa bức xúc được ghi rõ trong bút lục 101, 102). Tuy nhiên N đã không dừng lại, khi L chạy về phía vách ngăn gỗ thì T chạy lại dùng dây thắt lưng vòng qua người L và tay L, siết chặt người L ép vào ván gỗ, N dùng dao cắt hai nhát vào cổ của L, chị D thấy vậy nên hô hoán, anh Lê Hồng H chạy vào can ngăn kéo N ra ngoài. Anh L trong tình huống trên đã bị khóa chặt, hoàn toàn rơi vào thế bị động (BL 04, 05, 104, 105, 121, 130, 157), không thể có sự kháng cự nếu muốn gây thương tích tiếp cho L thì N chỉ cần chém vào các vùng khác trên cơ thể của L là đủ, tuy nhiên N đã dùng tay trái đè đầu và tay phải cầm dao ngược (lưỡi dao dọc song song với cánh tay, đầu hướng lên trên) cắt liên tục vào cổ của anh L (BL 104, 105, 187, 188), do anh L lắc đầu và cổ nên N chỉ cắt hai nhát vào cổ của nạn nhân, trước đó N cũng đã cố ý chém vào hướng vào cổ của anh L nhưng không trúng (BL 157). Hành vi dùng hung khí nguy hiểm tấn công vào vị trí xung yếu (cổ) của anh L, buộc bị can phải biết có khả năng dẫn đến chết người nhưng vẫn thực hiện hành vi. Tính chất nguy hiểm của hành vi cắt cổ nạn nhân được thể hiện trong cách cầm con dao tấn công vào cổ của anh L, cách N cầm dao tấn công L khi L đang ở thế hoàn toàn bị động thể hiện rõ ý chí của N muốn tước đoạt tính mạng của L. Nếu không có anh H vào ôm kéo N ra (BL 96, 104, 191) thì chắc chắn N vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội cho đến cùng điều này thể hiện ý chí, mục đích tước đoạt mạng sống của nạn nhân rõ rệt và mong muốn cho hậu quả xảy ra. Ý chí muốn tước đoạt sinh mạng của anh L thể hiện tại lời khai tại bút lục 105 “hỏi: vì sao anh chọn vị trí cổ của anh L để tấn công anh Cao Xuân L; đáp: tôi bức xúc với thái độ của anh L, mong muốn nhanh chóng đánh anh L để gây thương tích cho L, tôi cố ý dùng dao cắt vào cổ của L để nhanh chóng gây thương tích cho Linh và khi L bị thương nặng sẽ không có khả năng gây thương tích cho tôi”.

Tại các biên bản ghi lời khai bút lục 102, 108 bị can N trình bày: “tôi không có ý cắt vào vùng cổ của anh L, chỉ cắt đi cắt lại hai lần vào cổ với lực nhẹ” và “tôi không có ý dùng dao cắt vào vùng cổ của anh L mà tôi định cắt vào vùng vai, tay nhưng do L cựa quậy nên tôi đã cắt trúng vùng cổ anh L” là không đúng thực tế. Một chuỗi hành vi liên tiếp của N thể hiện sự hung hãn, côn đồ, quyết liệt đã trực tiếp đe dọa tước đoạt tính mạng của anh L, N đã tấn công vào cơ thể của nạn nhân là thoả mãn được mục đích gây thương tích cho nạn nhân nhưng vẫn tiếp tục cố ý truy sát và phạm tội đến cùng là thể hiện ý chí, mục đích tước đoạt mạng sống của nạn nhân rõ rệt và mong muốn cho hậu quả xẩy ra.

Hành vi dùng hung khí nguy hiểm cắt vào cổ của anh L là vùng trọng yếu trên cơ thể con người, anh L bị thương tích 09% đây là thương tích ở thời điểm giám định, không phải thương tích ở thời điểm xảy ra vụ án, nên không phản ánh đúng thương tích của anh L và tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Việc anh L không chết là ngoài ý muốn chủ quan của N. Do đó, hành vi nêu trên của N đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người”, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt và có tính chất côn đồ, bị can T đồng phạm với vai trò giúp sức.

2. Về thủ tục tố tụng: trong vụ án này, với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị can N và T, Cơ quan CSĐT Công an huyện Minh Hóa chỉ khám nghiệm hiện trường, chụp ảnh hiện trường mà không tiến hành thực nghiệm điều tra là vi phạm nghiệm trọng thủ tục tố tụng do chưa diễn lại hành vi để làm rõ được vị trí đứng, tư thế cắt, cách cắt, mức độ tấn công, cường độ tấn công của bị can, tình trạng của bị hại, vị trí người đứng can ngăn. Thực nghiệm điều tra trong vụ án này có ý nghĩa đối với việc định tội danh.

Cỡ chữ