vanban.org

Quyết định 08/2021/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 12/04/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Xuân Th và chị Lê Thị H.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thùy D, sinh ngày 22/4/2016 cho chị Lê Thị H nuôi dưỡng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh Th được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Xuân Th - Lê Thị H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Xuân Th và chị Lê Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:08/2021/QĐST- HNGĐHải Dương, ngày 12 tháng 4 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Thúy Hà – Cán bộ Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Ông Nguyễn Văn Tưởng – Kiểm sát viên, tham gia phiên họp.

Ngày 12 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 40/2021/TLST-HNGĐ ngày 09/3/2021, về việc‘‘Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con". Theo Quyết định mở phiên họp số 42/2021/QĐMPH-HNGĐ ngày 31/3/2021 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu:

1. Anh Nguyễn Xuân Th, sinh ngày 09/9/1986.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu B, thị trấn N, huyện S, tỉnh Hải Dương.

Nơi ở hiện nay: 183 – 8523 – Tokyoto – fuchushi – tokimicho- 4chome 10bang chi, Nhật Bản (vắng mặt).

2. Chị Lê Thị H, sinh ngày 19/12/1984.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu B, thị trấn N, huyện S, tỉnh Hải Dương.

Nơi ở hiện nay: 515 – 0033 Mieken- matsusakashi – kaibanocho 1618 tauni kaibana A103, Nhật Bản (vắng mặt).

Người được anh Th, chị H ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng: Ông Lường Văn Đ, sinh năm 1997.

Địa chỉ: xã A, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

1

Theo đơn xin ly hôn,bản tự khai, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt của anh Nguyễn Xuân Th và chị Lê Thị H cùng các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện :

Về quan hệ hôn nhân: chị H, anh Th tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện S, tỉnh Hải Dương ngày 09/3/2012. Vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì bất đồng quan điểm. Nguyên nhân do khác biệt về tính cách, không hòa hợp, vợ chồng không tìm thấy tiếng nói chung. Mặt dù đã được gia đình đã động viên, khuyên bảo nhưng hai bên không tìm được hướng giải quyết, mâu thuẫn càng trở lên trầm trọng. Tháng 4/2017 chị H sang Nhật Bản sinh sống, sau đó ngày 21/12/2018 chị H bảo lãnh để anh Th sang Nhật Bản.Tuy nhiên, hai bên không có hạnh phúc. Nay cả hai đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đã thống nhất làm đơn ly hôn, đề nghị Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn.

Về con chung : Chị H, anh Th đều xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Thùy D, sinh ngày 22/4/2016. Cháu D đang sống tại Nhật Bản cùng mẹ. Nay ly hôn cả hai đều thỏa thuận giao cháu D cho chị H nuôi dưỡng, chị H tự nguyện không yêu cầu anh Th cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung : Hai bên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về lệ phí : Anh Th tự nguyện chịu toàn bộ tiền tạm ứng án phí ly hôn.

Hiện tại anh Th, chị H đang ở Nhật Bản, toàn bộ tài liệu gồm đơn ly hôn, bản tự khai, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, đơn đề nghị giám định, đơn xin tự nguyện nộp án phí gửi về Việt Nam chưa được hợp pháp hóa lãnh sự. Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã ra quyết định trưng cầu giám định. Tại kết luận giám định số 02/KLGĐ-PC09 ngày 29 tháng 3 năm 2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Dấu vân tay tại các tài liệu cần giám định với dấu vân tay in trong tờ khai CMND mang tên chị Lê Thị H là của cùng một người; Dấu vân tay tại các tài liệu cần giám định với dấu vân tay in trong tờ khai CMND mang tên anh Nguyễn Xuân Th là của cùng một người.

Do điều kiện chị Lê Thị H và anh Nguyễn Xuân Th không về Việt Nam để giải quyết ly hôn, nên đều đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, đồng thời ủy quyền cho ông Lường Văn Đ – làm việc tại Văn phòng luật Quang Huy giao nhận các văn bản tố tụng tại Tòa án. Tại biên bản lấy lời khai, ông Đ có quan điểm đồng ý nhận ủy quyền của chị H, anh Th. Sau khi nhận thông báo thụ lý vụ án, ông Đ đã thông báo cho chị H, anh Th biết, quan điểm của chị H, anh Th vẫn giữ nguyên quan điểm ly hôn, quan điểm nuôi con chung như đơn ly hôn đã trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký phiên họp và các đương sự cơ bản đã

2

chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về thời hạn chuẩn bị mở phiên họp chưa thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy Viện kiểm sát không phát biểu đường lối giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

. Về tố tụng: Chị Lê Thị H và anh Nguyễn Xuân Th đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản. Các tài liệu do anh Th, chị H gửi về Việt Nam bao gồm: Đơn ly hôn, bản tự khai, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt đã được Tòa án trưng cầu giám định dấu vân tay. Tại kết luận giám định số 02/KLGĐ-PC09 ngày 29 tháng 3 năm 2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Dấu vân tay tại các tài liệu cần giám định với dấu vân tay in trong tờ khai CMND mang tên chị Lê Thị H là của cùng một người; Dấu vân tay tại các tài liệu cần giám định với dấu vân tay in trong tờ khai CMND mang tên anh Nguyễn Xuân Th là của cùng một người.

Do vậy có đủ cơ sở khẳng định ý chí, quan điểm ly hôn của chị H, anh Th là hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt chị H, anh Th.

. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Nguyễn Xuân Th được tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện S ngày 09/3/2012, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Tuy nhiên trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, hay xảy ra xung đột, mâu thuẫn và không tìm thấy tiếng nói chung. Đến nay cả hai đều xác định tình cảm không còn và đều có đơn xin ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị H, anh Th đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh chị.

Về con chung: Chị H, anh Th có một con chung là Nguyễn Thùy D, sinh ngày 22/4/2016. Hiện nay cháu D đang ở cùng với chị H. Ly hôn chị H, anh Th đều thỏa thuận thống nhất để cháu D ở với chị H. Việc thỏa thuận này hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với nguyện vọng của các đương sự. Mặt khác cháu D đang ở Nhật Bản, được chị H nuôi dưỡng, chăm sóc, do vậy việc tiếp tục giao cháu D cho Chị H nuôi dưỡng là phù hợp. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

. Về Lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Xuân Th tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí ly hôn theo quy định.

3

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 55, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 149, Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Xuân Th và chị Lê Thị H.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thùy D, sinh ngày 22/4/2016 cho chị Lê Thị H nuôi dưỡng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Anh Th được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

3.Về lệ phí: Anh Nguyễn Xuân Th tự nguyện chịu cả 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ do ông Lường Văn Đ nộp thay anh Th theo biên lai thu số AA/2018/0005745 ngày 08 tháng 3 năm 2021 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh Th đã nộp đủ lệ phí.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ