vanban.org

Quyết định 08/2021/QĐ-TA

TAND TP. Tân An, tỉnh Long An Tuyên án 26/01/2021 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn An Đ, sinh ngày 15/02/1991.

Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, thời hạn chấp hành được tính từ ngày Nguyễn An Đ bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở Cai nghiện ma túy Long An (địa chỉ: Ấp 2, xã T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn An Đ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn An Đ, sinh ngày 15/02/1991.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 08/2021/QĐ-TAT, ngày 26 tháng 01 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH LONG AN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Toàn Vẹn

2. Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Tuyết Ngân

Ngày 26 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Long An tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 05/2021/QĐ-TA ngày 13 tháng 01 năm 2021 đối với:

Đối với: Nguyễn An Đ, tên gọi khác: C;

Sinh ngày 15/02/1991;

CMND số: 301594888; Ngày cấp: 11/10/2017; Nơi cấp: Công an Long An.

Dân tộc: Kinh;

Quốc tịch: Việt Nam;

Tôn giáo: không;

Trình độ văn hóa: 9/12;

Hộ khẩu thường trú: Số 335, Ấp M, xã H, thành phố T, tỉnh Long An;

Chỗ ở hiện nay: Số 335, Ấp M, xã H, thành phố T, tỉnh Long An.

Nghề nghiệp: lao động tự do.

Tiền án: không; tiền sự: 01, cụ thể: Ngày 12/7/2020, bị Công an xã H, thành phố T, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành chính với số tiền: 750.000 đồng do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 14/9/2020, bị Ủy ban nhân dân xã H, thành phố T, tỉnh Long An ra Quyết định số 191/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn là 03 tháng do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 17/8/2020.

Con ông: Nguyễn Văn T và bà: Trương Thị Bích T.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lê Minh S - Chức vụ: Phó trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố T, tỉnh Long An (văn bản ủy quyền ngày 08/01/2021).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Long An: Bà Nguyễn Thị C

- Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Nguyễn An Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhiều lần, cụ thể: Ngày 12/7/2020, Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; đến ngày 30/4/2021, Đ bị Công an Phường N, thành phố T, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành chính với số tiền: 750.000 đồng (chờ bổ sung quyết định xử phạt của công an xã). Ngày 17/8/2020, Đ tiếp tục bị Công an xã H, thành phố T, tỉnh Long An lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đưa đến Bệnh viện Tâm thần Long An xác định tình trạng nghiện. Đến ngày 28/8/2020, Bệnh viện Tâm thần Long An có phiếu trả lời kết quả số 562/BVTT-KHTH về việc xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Nguyễn An Đ với kết quả có nghiện ma túy tên Anphetamine. Ngày 14/9/2020, bị Ủy ban nhân dân xã H, thành phố T, tỉnh Long An ra Quyết định số 191/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Đ với thời hạn là 03 tháng (đã chấp hành xong). Đến ngày 21/12/2020, bị Công an xã H, thành phố T lập biên bản vi phạm hành chính do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 16/12/2020 tại khu phố T, Phường M, thành phố T và được đưa đi xét nghiệm. Tại phiếu trả lời kết quả ngày 21/12/2020 của Trung tâm Y tế thành phố T xác định Nguyễn An Đ dương tính với chất Methamphetamine.

Tại văn bản số 42/ĐN-LĐTBXH ngày 08/01/2021 của Phòng Lao động-Thương binh và xã hội thành phố T đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn An Đ.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động-Thương binh và xã hội thành phố T đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn An Đ với thời hạn 12 đến 18 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T phát biểu ý kiến: Từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Pháp lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định, áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính tại Tòa án nhân dân. Nguyễn An Đ được triệu tập và có mặt tại phiên họp, chấp hành đúng nội quy phiên họp. Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn An Đ được Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố T thực hiện đầy đủ theo quy định tại Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Nguyễn An Đ có hành vi sử dụng trái phép ma túy, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng vẫn tiếp tục sử dụng nên cần thiết đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để giúp Đ cai nghiện tốt, trở thành người khỏe mạnh. Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn An Đ với thời hạn là 15 tháng.

XÉT THẤY:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Nguyễn An Đ, ý kiến của người bị đề nghị, ý kiến đại diện Phòng Lao động-Thương binh và xã hội thành phố T và đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, đã có đủ cơ sở để xác định:

Hồ sơ của Phòng Lao động-Thương binh và xã hội thành phố T đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn An Đ đảm bảo về thời hiệu và trình tự thủ tục theo quy định tại các điều 6, 103 và 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Tại Quyết định số 191/QĐ-UBND ngày 14/9/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, thành phố T đã buộc Nguyễn An Đ phải áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 tháng, tính từ ngày 14/9/2020. Ngày 14/12/2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, thành phố T ban hành Giấy chứng nhận số 04/GCN-UBND về việc chấp hành xong quyết định giáo dục tại xã, phường thị trấn đối với Đ.

Ngày 16/12/2021, Nguyễn An Đ tiếp tục có hành vi sử dụng ma túy tổng hợp và bị lập biên bản vi phạm hành chính vào ngày 21/12/2020. Bản tường trình của Đ và biên bản lấy lời khai của Công an xã H, thành phố T ngày 21/12/2020, thể hiện Đ thừa nhận có sử dụng ma túy trái phép là phù hợp với kết quả xét nghiệm Đ dương tính với chất Methamphetamine của Trung tâm Y tế thành phố T.

Xét thấy: Nguyễn An Đ đã thành niên, có năng lực trách nhiệm hành chính, mặc dù biết tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng nhưng Đ vẫn cố ý sử dụng ma túy nhiều lần, bị xử phạt vi phạm hành chính và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn tiếp tục sử dụng ma túy nên thuộc đối tượng áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 95, 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Về tình tiết tăng nặng: Nguyễn An Đ đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an xã H, thành phố T lập biên bản vi phạm hành chính và bị xử phạt vi phạm hành chính, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn là 03 tháng tại Quyết định số 191/QĐ-UBND ngày 14/9/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, thành phố T. Đến ngày 16/12/2020, Đ lại tiếp tục sử dụng ma túy. Mặc dù chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nhưng Đ lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 10 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Về tình tiết giảm nhẹ: Nguyễn An Đ tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Như vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời gian nghiện, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của Nguyễn An Đ, để tạo điều kiện cho Đ cai nghiện tốt, lao động trở thành người khỏe mạnh, có ích cho gia đình và xã hội nên cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động-Thương binh và xã hội và đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn An Đ theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào các Điều 19, 20 và Điều 22 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Áp dụng các Điều 6, 7, 9, 10, 95, 96, 103, 104, 105 và Điều 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn An Đ, sinh ngày 15/02/1991.

2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, thời hạn chấp hành được tính từ ngày Nguyễn An Đ bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở Cai nghiện ma túy Long An (địa chỉ: Ấp 2, xã T, huyện T, tỉnh Long An).

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:

Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T, tỉnh Long An có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Long An có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định; trường hợp người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn khiếu nại là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định của Tòa án hoặc quyết định được tống đạt theo quy định của pháp luật.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an nhân dân thành phố T, tỉnh Long An chủ trì phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố T, tỉnh Long An có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định này./.

Cỡ chữ