vanban.org

Quyết định 08/2020/QĐ-TA

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 09/01/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Tất Đ.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày Trần Tất Đ bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ: Xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk)… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cao nghiện bắt buộc đối với Trần Tất Đ"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Tất Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 08/2020/QĐ-TABuôn Ma Thuột, ngày 09 tháng 01 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt

2. Thư ký phiên họp: Bà Dương Thị Bích Dịu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Ngày 09 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 09/2020/QĐ-MPH ngày 03 tháng 01 năm 2020, đối với:

Họ và tên: Trần Tất Đ; Tên gọi khác: Đ cụt; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1979; tại Đắk Lắk, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 8/12; Nguyên quán: Thái Bình; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: 497 đường L, TDP3, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.Tiền án: 01; Tiền sự: không; Con ông Trần A và bà Nguyễn Thúy H.Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Vũ Thị N – Chức vụ: Chuyên viên Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột: Ông Y Lương Byă - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 14/8/2019 Chủ tịch UBND phường E, thành phố B đã ban hành Quyết định số 146/QĐ-UB V/v áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn đối với Trần Tất Đ thời gian 03 tháng kể từ ngày 14/8/2019, sau khi chấp hành xong quyết định trên ngày 26/11/2019 Trần Tất Đ tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an phường T, thành phố B phát hiện đưa về làm việc, quá trình làm việc Đ khai nhận bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2002, đã bị đưa đi cai nghiện bắt buộc nhưng vẫn không cai nghiện được mà vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, Công an phường T đã phối hợp với Bệnh viện đa khoa thành phố Buôn Ma Thuột xét nghiệm chất ma túy đối với Trần Tất Đ. Kết quả xét nghiệm xác định Trần Tất Đ dương tính với Amphetamin( AMP) và Methamphetamin.

Qua kết quả xác minh xác định Trần Tất Đ có hộ khẩu thường trú tại 497 đường L, Tổ dân phố 3, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Do đó, Công an phường T đã chuyển hồ sơ cho Công an Phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Tất Đ.

Tại phiên họp đại diện phòng lao động thương binh xã hội thành phố Buôn Ma Thuột trình bày: Căn cứ vào Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013; hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Tất Đ do Công an phường E, thành phố B lập đã thể hiện: Trần Tất Đ đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2002 đến nay, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng không tự cai nghiện được và lần sử dụng gần đây nhất là ngày 26/11/2019. Do vậy đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Tất Đ với thời gian từ 22 tháng đến 24 tháng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột: Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã tuân thủ theo đúng quy định của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân về thụ lý hồ sơ, ra quyết định mở phiên họp và trình tự thủ tục tiến hành phiên họp; đảm bảo cho người tham gia phiên họp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột giải quyết theo hướng chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố B, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cai nghiện bắt buộc đối với Trần Tất Đ, thời gian từ 22 tháng đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; ý kiến của cơ quan đề nghị là Phòng lao động, thương binh xã hội thành phố B và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính, đã có đủ căn cứ để xác định:

Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố B đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Trần Tất Đ đầy đủ và hợp lệ theo quy định tại các Điều 6, Điều 95, Điều 96, Điều 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 3, Điều 4, Điều 8, Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.

Bản thân Trần Tất Đ là người có đủ khả năng nhận thức, Đ biết rõ ma túy là chất gây nghiện làm nguy hại cho sức khỏe con người, đồng thời cũng là nguyên nhân lây truyền các căn bệnh nguy hiểm và làm phát sinh một số tội phạm khác, mặt khác Đ đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Mặt khác bản thân Đ là người có nhân thân xấu, đã từng đi cai nghiện nhưng Trần Tất Đ vẫn không tự cai nghiện được và vẫn cố ý sử dụng trái phép chất ma túy. Để tạo điều kiện cho Trần Tất Đ chữa bệnh, lao động, học tập, học nghề nên cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố B, quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Trần Tất Đ.

Căn cứ vào các Điều 6, Khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Các Điều 3, Điều 4, Điều 8, Điều 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Điều 1 của Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ; Điều 19, Điều 20 và Điều 22 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Tất Đ.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày Trần Tất Đ bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ: Xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk).

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng lao động, thương binh và xã hội thành phố B.

Cỡ chữ