- Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Chấm dứt nuôi con nuôi giữa bà M và chị T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà Bùi Thị M.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƢNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 08/2019/QĐST-HNGĐ | Đông Hưng ngày 27 tháng 9 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi”
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƢNG, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Hoàng Văn Thành.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên toà:
Bà Vũ Thị Huế - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 10/2019/TLST-VDS ngày 20 tháng 8 năm 2019 về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 07/2019/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Bùi Thị M, sinh năm 1958
Trú tại: Thôn K, xã P, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1993.
- Bà Bùi Thị C, sinh năm 1969.
- Ông Nguyễn Thế D, sinh năm 1966.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Thế D: Bà Bùi Thị C, sinh năm 1969.
Đều trú tại: Thôn K, xã P, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
(Tại phiên họp có mặt bà M, chị T, bà C, vắng mặt ông D).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
1. Theo đơn yêu cầu ngày 08/8/2019, bản tự khai ngày 20/8/2019 và tại phiên họp bà Bùi Thị M trình bày:
Ngày 15 tháng 3 năm 2004 bà có nhận chị Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 28 tháng 7 năm 1993 làm con nuôi. Bà và bố mẹ của chị T là ông Nguyễn Thế D và bà Bùi Thị C đã được Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình làm thủ tục nuôi con nuôi theo Quyết định công nhận nuôi con nuôi số 01/QĐ-UB ngày 15 tháng 3 năm 2004. Trong thời gian chung sống với gia đình, hai bên đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của bố mẹ và con cái, tuy nhiên đến nay chị T đã trưởng thành, bố mẹ đẻ chị T là người cùng xã nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa vợ chồng bà và chị Nguyễn Thị Thu T. Trong quá trình chung sống cùng gia đình, chị T không có đóng góp gì về công sức và kinh tế vào khối tài sản của gia đình bà cũng như không có tài sản chung gì với gia đình bà.
2. Theo bản tự khai ngày 20/8/2019 và tại phiên họp chị Nguyễn Thị Thu T trình bày:
Ngày 15 tháng 3 năm 2004, chị có nhận ông Cao Kim C và bà Bùi Thị M làm bố mẹ nuôi. Việc nhận bố mẹ nuôi được bố mẹ đẻ chị là ông Nguyễn Thế D và bà Bùi Thị C cùng ông Cao Kim C và bà Bùi Thị M làm thủ tục nuôi con nuôi và được Ủy ban nhân dân xã P ra Quyết định công nhận nuôi con nuôi số 01/QĐ-UB ngày 15 tháng 3 năm 2004. Nay chị đã trưởng thành, bố nuôi chị là ông Cao Kim C đã mất, mẹ nuôi chị là bà Bùi Thị M tuổi đã cao, sức khỏe đã yếu, hơn nữa bố mẹ đẻ lại là người cùng xã nên chị đồng ý chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa chị và bố mẹ nuôi chị là bà Bùi Thị M và ông Cao Kim C, để tránh sự ràng buộc về pháp lý. Trong quá trình chung sống cùng gia đình bà M, chị không có đóng góp gì về công sức và kinh tế vào khối tài sản của gia đình bà M cũng như không có tài sản chung gì với gia đình bà M.
2. Theo bản tự khai ngày 20/8/2019 và tại phiên họp bà Bùi Thị C trình bày:
Bà là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị Thu T. Năm 2004, bà và chồng bà ông Nguyễn Thế D cùng ông Cao Kim C và bà Bùi Thị M có thỏa thuận để chị T được làm con nuôi của ông C và bà M. Các ông bà đã được Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình làm thủ tục và ra Quyết định công nhận nuôi con nuôi số 01/QĐ-UB ngày 15 tháng 3 năm 2004. Nay chị T đã trưởng thành, để tránh sự ràng buộc pháp lý về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi nên bà yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Cao Kim C, bà Bùi Thị M và chị Nguyễn Thị Thu T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng phát biểu quan điểm tại phiên họp: Quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký cũng như của đương sự đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung việc dân sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm 1 khoản 2 Điều 39, Điều 367, 369, 370, 371, 372 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 25, khoản 1 Điều 26, khoản 1 Điều 27 Luật nuôi con nuôi; Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 2 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận đơn yêu của của bà Bùi Thị M; Bà Bùi Thị M được miễn tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét toàn bộ các tài liệu chứng cứ và ý kiến của các đương sự tại các lời khai và tại phiên họp hôm nay, Tòa án nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có hộ khẩu thường trú tại huyện Đông Hưng, vì vậy căn cứ vào khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm 1 Khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân huyện Đông Hưng giải quyết là đúng thẩm quyền.
Về nội dung:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ việc dân sự, chị Nguyễn Thị Thu T được ông Cao Kim C và bà Bùi Thị M nhận nuôi con nuôi, được Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình ra Quyết định công nhận nuôi con nuôi số 01/QĐ-UB ngày 15 tháng 3 năm 2004, việc nhận con nuôi là hợp pháp. Quá trình chị T làm con nuôi của ông C, bà M không xảy ra mâu thuẫn gì, hai bên thực hiện các quyền của cha mẹ nuôi đối với con nuôi và con nuôi đối với cha mẹ nuôi. Đến nay bà Bùi Thị M là mẹ nuôi chị Nguyễn Thị T đề nghị chấm dứt việc nuôi con nuôi để tránh sự ràng buộc về pháp lý đối với con nuôi về quyền và nghĩa vụ, chị T cũng đồng ý. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 25, khoản 1 Điều 26, khoản 1 Điều 27 Luật nuôi con nuôi, Điều 78 luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị M về việc yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi đối với chị Nguyễn Thị Thu T.
Trong quá trình nhận nuôi con nuôi, bà M và chị T đều xác định chị T không đóng góp gì về công sức và kinh tế vào khối tài sản của gia đình bà M cũng như không có tài sản chung gì với bà Mận nên không xem xét, giải quyết.
Về lệ phí: Bà Bùi Thị M được miễn lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm 1 khoản 2 Điều 39, Điều 367, 369, 370, 371, 372 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 25, khoản 1 Điều 26, Điều 27 Luật nuôi con nuôi; Điều 78 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1, khoản 2 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà Bùi Thị M.
Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Bùi Thị M, ông Cao Kim C đối với chị Nguyễn Thị Thu T.
2. Quyền và nghĩa vụ liên quan đến việc nuôi con nuôi giữa bà Bùi Thị M, ông Cao Kim C và chị Nguyễn Thị Thu T chấm dứt kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực pháp luật.
3. Lệ phí dân sự sơ thẩm: Bà Bùi Thị M được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, người có mặt tại phiên họp tính từ ngày 27/9/2019, người vắng mặt tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đông Hưng; - Chi cục THADS huyện Đông Hưng; - Người yêu cầu; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - UBND xã P; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký) HOÀNG VĂN THÀNH |