vanban.org

Quyết định 08/2019/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa:

Nguyên đơn: Anh Đỗ Xuân T, sinh năm 1986. Nơi ĐKHKTT: Tổ N, phường X, Thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; nơi làm việc: Ban chỉ huy Quân sự, huyện B, tỉnh Cao Bằng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa Đỗ Xuân T và Nông Thị K"
  • Tòa quyết gì? [1]. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH CAO BẰNG
Số: 08/2019/QĐST-HNGĐ
B, ngày 05 tháng 8 năm 2019.

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN VÀ

SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ vụ án dân sự thụ lý số: 08/2019/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2019, giữa:

- Nguyên đơn: Anh Đỗ Xuân T, sinh năm 1986.

Nơi ĐKHKTT: Tổ N, phường X, Thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; nơi làm việc: Ban chỉ huy Quân sự, huyện B, tỉnh Cao Bằng.

- Bị đơn: Chị Nông Thị K, sinh năm 1990.

Nơi ĐKHKTT: Tổ N, phường X, Thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; nơi làm việc: Trường trung học cơ sở bán trú V, xã V, huyện B, tỉnh Cao Bằng.

Căn cứ vào các Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 55; 81; 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, ngày 26 tháng 7 năm 2019.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 26 tháng 7 năm 2019 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa:

Nguyên đơn: Anh Đỗ Xuân T, sinh năm 1986.

Nơi ĐKHKTT: Tổ N, phường X, Thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; nơi làm việc: Ban chỉ huy Quân sự, huyện B, tỉnh Cao Bằng.

Bị đơn: Nông Thị K, sinh năm 1990.

Nơi ĐKHKTT: Tổ N, phường X, Thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; nơi làm việc: Trường trung học cơ sở bán trú V, xã V, huyện B, tỉnh Cao Bằng.

[2]. Sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn của anh Đỗ Xuân T và chị Nông Thị K cùng nhất trí tự nguyện thuận tình ly hôn.

Về con chung: Anh Đỗ Xuân T và chị Nông Thị K, thoả thuận để chị K được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con Đỗ Hoài A, sinh ngày 19 tháng 3 năm 2016 đến khi cháu A trưởng thành, đủ 18 tuổi tròn; anh T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con Đỗ Mạnh C, sinh ngày 06 tháng 10 năm 2012. Anh T, chị K có quyền được thăm nom con, không ai được cản trở.

Về Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự cùng nhất trí thỏa thuận không yêu cầu mối bên phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Xác nhận, tại phiên hòa giải các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về phần tài sản.

Nghĩa vụ chung của vợ, chồng về tài sản: Anh T và chị K cùng xác nhận vợ chồng không vay hoặc nợ ai. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016;

Anh Đỗ Xuân T và chị Nông Thị K mỗi người phải chịu số tiền 75.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm cho việc thuận tình ly hôn; anh T tự nguyện nộp thay cho chị K số tiền 75.000 đồng; như vậy anh T phải nộp số tiền 150.000 đồng, (bằng chữ: Một trăm năm mươi nghìn đồng); nhưng được trừ vào số tiền Tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, (bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AB/2012/01144 ngày 18 tháng 7 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Cao Bằng. Anh T còn được hoàn lại số tiền 150.000 đồng, (bằng chữ: Một trăm năm mươi nghìn đồng). Các đương sự đã nộp đủ số tiền án phí dân sự sơ thẩm, để nộp vào ngân sách Nhà nước.

Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm .

Cỡ chữ