- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Lò Văn T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Lò Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Số: 08/2019/QĐ-TA | Đ, ngày 21 tháng 01 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Đào Thị Thúy Thành
2. Thư ký phiên họp: Ông Bùi Minh Thắng
Ngày 21 tháng 01 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 07/QĐ - TA ngày 11 tháng 01 năm 2019, thông báo về việc hoãn phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 02/TB-TLHS ngày 17/01/2019 đối với:
Họ và tên: Lò Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1965;
Chứng minh nhân dân: Đã bị mất;
Nghề nghiệp: Không;
Nơi ĐKHKTT: Bản Tân Quang, xã T, thành phố Đ, tỉnh B.
Nơi cư trú: Bản H II, phường H, thành phố Đ, tỉnh B;
Số thụ lý: 07/2019/TA-TLHS ngày 09/01/2019;
Có sự tham gia của:
1. Đại diện Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố Đ: Bà Trương Thị Phương Anh - Cán bộ.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thắm - Kiểm sát viên.
3. Đại diện gia đình người bị đề nghị: Bà Lò Thị N - Sinh năm: 1967
Địa chỉ: Bản H II, phường H, thành phố Đ, tỉnh B ( Là vợ của người bị đề nghị).
NHẬN THẤY:
Ngày 16/8/2018 Lò Văn T bị Chủ tịch UBND phường H, thành phố Đ, tỉnh B Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quyết định số: 29b/QĐ-UBND ngày 16/8/2018, thời hạn là 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Lò Văn T đã chấp hành xong biện pháp giáo dụng tại phường H và có giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời hạn giáo dục tại phường H. Ngày 10/12/2018 Lò Văn T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 10/12/2018 Công an phường H lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 18/12/2018 UBND phường H thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn T.
* Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị có ý kiến:
Lò Văn T là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, mặc dù ý thức được tác hại của việc sử dụng ma túy, đã được áp dụng biện pháp giáo dục tại phường H, nhưng Lò Văn T vẫn không tiến bộ, vẫn còn nghiện ma túy, nên cần có biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để Lò Văn T tiếp tục được cai nghiện. Vì vậy, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa Lò Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là từ 12 đến 18 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh B có ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Thủ tục pháp lý hồ sơ của Lò Văn T đầy đủ, đảm bảo về thời hiệu, thẩm quyền và trình tự. Quá trình thụ lý hồ sơ, ra quyết định mở phiên họp và trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp đã thực hiện đúng theo quy định của pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại tòa án nhân dân.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Lò Văn T là người có đầy đủ năng lực hành chính, có độ tuổi trên 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường mà vẫn còn nghiện. Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Lò Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 12 đến 18 tháng.
Tại phiên họp đại diện gia đình người bị đề nghị có ý kiến: Tôi là Lò Thị N, là vợ của anh Lò Văn T, anh Lò Văn T đã có một thời gian dài nghiện ma túy, gia đình đã cai nghiện cho anh T tại nhà, nhưng anh T vẫn không bỏ được. Tôi đề nghị cho anh Lò Văn T được đi cai nghiện ma túy.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và ý kiến của những người tham gia phiên họp thấy rằng:
Tài liệu trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn T đảm bảo về thời hiệu và trình tự theo quy định tại Điều 6, Điều 96, Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính,
Lò Văn T là đối tượng nghiện ma túy, đã được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường mà vẫn còn nghiện, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn T ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn phường H nói riêng và thành phố Đ nói chung, hành vi của Lò Văn T còn tiếp tay cho những đối tượng chuyên buôn bán các chất ma túy tồn tại và phát triển.
Lò Văn T không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nào. Sau thời gian áp dụng biện pháp giáp dục tại phường vẫn còn nghiện ma túy, nên cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để Lò Văn T có điều kiện cai nghiện trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Đối với ý kiến của đại diện Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố Đ và đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh B tại phiên họp là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104 và khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 20, 22, 29, 30, 31, 32 của Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Lò Văn T.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 15 (Mười lăm) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Lò Văn T có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố Đ, tỉnh B có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh B có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Áp dụng khoản 1 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính Công an thành phố Đ, Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố Đ, có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị Lò Văn T; - Trưởng phòng LĐTBXH TPĐBP; - Trưởng Công an TPĐBP; - Công an phường H,TPĐBP; - Viện kiểm sát NDTPĐBP; - UBND phường H,TPĐBP; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Đào Thị Thúy Thành |