- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan T - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 104/QĐ-VC2 ngày 14-9-2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Căn cứ chính? Điều 382 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 388 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 389 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Quyết định số: 08/2019/HS-GĐT Ngày 27 tháng 02 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tiến.
Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm: Ông Trần Minh Tuấn và Ông Đặng Kim Nhân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thị Hằng - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Quách Đức Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:
Phan T, sinh năm 1968; trú tại: 48/3 đường N, phường T1, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: lái xe; con ông Phan K và bà Ngô Thị L (đều đã chết); có vợ là Phạm Thị N1 và 03 con; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 26-12-2000 Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm tù về tội “Vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải”, chấp hành xong hình phạt ngày 29-6-2001. Bị bắt tạm giam từ ngày 01-5-2017.
Người bị hại:
- Cháu Tô Thị Thu H (sinh năm 2011 – đã chết).
- Bà Triệu Thị L1 (sinh năm 1985), trú tại: thôn 5A, xã E, huyện K1, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện hợp pháp của cháu H: ông Tô Ngọc T2 và bà Triệu Thị L1; cùng trú tại: thôn 5A, xã E, huyện K1, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Vào khoảng 10 giờ ngày 21-3-2017, tại địa phận phường A, thị xã B1, bị cáo Phan T điều khiển xe ô tô tải biển số 47C-088.96 theo hướng từ thành phố B đến huyện K1, tỉnh Đắk Lắk. Do thiếu chú ý quan sát, đi không đúng làn đường nên xe ô tô do T điều khiển va chạm với xe mô tô biển số 47M1-204.02 do chị Triệu Thị L1 điều khiển chở cháu Tô Thị Thu H chạy cùng chiều. Hậu quả làm cháu H tử vong, chị L1 bị thương.
Tại Kết luận pháp y tử thi số 166/PY-T.Th ngày 25-3-2017 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Đắk Lắk kết luận: Cháu Tô Thị Thu H tử vong do choáng chấn thương sau tai nạn giao thông.
Tại Kết luận pháp y thương tích số 480/PY-TgT ngày 11-4-2017 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chị Triệu Thị L1 bị vết thương bàn, ngón chân trái, vỡ xương gót - điều trị bảo tồn, thương tích tỷ lệ 25%.
Tại Kết luận điều tra số 36/KLĐT-CSĐT.BH ngày 16-7-2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã B1, tỉnh Đắk Lắk đề nghị truy tố Phan T về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại Cáo trạng số 34/KSĐT-HS ngày 26-7-2017, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã B1, tỉnh Đắk Lắk truy tố Phan T về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2017/HSST ngày 25-8-2017 Tòa án nhân dân thị xã B1 đã quyết định:
“Tuyên bố bị cáo Phan T phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Áp dụng Khoản 1 Điều 202; Điểm b, p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phan T 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 01-5-2017.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 42 của Bộ luật hình sự; các Điều 589, 590, 591, 601 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn TTP do anh Nguyễn Hồng H1 làm giám đốc là người đại diện theo pháp luật phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về tính mạng của cháu Tô Thị Thu H, thiệt hại về sức khỏe của bà Triệu Thị L1 và thiệt hại về tài sản do chiếc xe mô tô biển số 47M-204.02 bị hư hỏng cho ông Tô Ngọc T2 và bà Triệu Thị L1 số tiền 125.218.209 đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 41 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã B1 đã trả lại chiếc xe mô tô biển số 47M1-204.02 do anh Tô Ngọc T2 là chủ sở hữu; trả lại chiếc xe ô tô tải biển số 47C-088.96 do Công ty trách nhiệm hữu hạn TTP do anh Nguyễn Hồng H1 làm giám đốc là người đại diện theo pháp luật, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc bồi thường trách nhiệm dân sự”.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của bị cáo, những người tham gia tố tụng khác.
Ngày 29-8-2017, bị cáo Phan T kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 310/2017/HSPT ngày 02-11-2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk quyết định: chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan T - sửa bản án sơ thẩm. Áp dụng Khoản 1 Điều 202; Điểm b, p Khoản 1 Điều 46 BLHS xử phạt bị cáo Phan T 10 tháng tù về tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 01-5-2017.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 104/QĐ-VC2 ngày 14-9-2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm theo hướng sửa bản án hình sự sơ thẩm nêu trên về phần xử lý vật chứng.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Quá trình điều tra, truy tố và tại các phiên tòa, Phan T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của T phù hợp với lời khai của những người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác, nên có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 10 giờ ngày 21-3-2017, Phan T là lái xe thuê cho Công ty trách nhiệm hữu hạn TTP đã điều khiển xe ô tô tải biển số 47C-088.96 đến đoạn Km 1737+830 thuộc địa phận phường A, thị xã B1, tỉnh Đắk Lắk do thiếu chú ý quan sát, đi không đúng phần đường nên đã va chạm với xe mô tô biển số 47M1-204.02 do chị Triệu Thị L1 điều khiển chở cháu Tô Thị Thu H chạy cùng chiều. Hậu quả làm cháu H tử vong, chị L1 bị thương. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm kết án T về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Về xử lý vật chứng: Do xe ô tô tải biển số 47C-088.96 là tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn TTP và Công ty phải có nghĩa vụ bồi thường cho gia đình bị hại với tổng số tiền 125.218.000 đồng nên Tòa án nhân dân thị xã B1, tỉnh Đắk Lắk áp dụng khoản 2 Điều 41 của Bộ luật hình sự, điểm b khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên: trả lại chiếc xe ô tô tải nêu trên cho Công ty trách nhiệm hữu hạn TTP, nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm việc bồi thường trách nhiệm dân sự là đúng quy định của pháp luật.
. Mặc dù, quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng thị xã B1 tỉnh Đắk Lắk đã không xác minh đầy đủ nên không biết được thời điểm xảy ra tai nạn, chiếc xe ô tô tải mang biển kiểm soát 47C-088.96 của Công ty TNHH TTP (do ông Nguyễn Hồng H1 - chức vụ Giám đốc là người đại diện theo pháp luật) đang thế chấp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Bảo Việt - Chi nhánh Đắk Lắk, theo Hợp đồng thế chấp số 1115973.A.14.HĐTC.ĐL ngày 24-12-2014 để bảo đảm cho số tiền vay là 1.800.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 0637/2014/HĐTD/BVB25 ngày 26-12-2014; thời hạn thế chấp từ ngày 24-12-2014 đến ngày 24-12-2019 nên không đưa Ngân hàng Thương mại cổ phần Bảo Việt - Chi nhánh Đắk Lắk vào tham gia tố tụng nên không thể xử lý chiếc xe ô tô để đảm bảo cho việc bồi thường trách nhiệm dân sự. Vì vậy, tại Công văn số 358/CCTHADS-TH ngày 23-4-2018, Chi cục Thi hành án dân sự thị xã B1, tỉnh Đắk Lắk đã kiến nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm để sửa phần xử lý vật chứng theo hướng không tiếp tục tạm giam chiếc xe ô tô tải nêu trên.
. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên trả lại chiếc xe cho Công ty trách nhiệm hữu hạn TTP nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm việc bồi thường trách nhiệm dân sự là đúng quy định của pháp luật, sau khi Công ty TTP thực hiện nghĩa vụ bồi thường thì sẽ được nhận lại chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát 47C-088.96 nên việc tạm giữ chiếc xe theo quyết định của bản án sơ thẩm không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng Thương mại cổ phần Bảo Việt. Hơn nữa, theo quy định tại Điều 47 Luật thi hành án dân sự về thứ tự thanh toán tiền thi hành án thì tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất vê tinh thần phải được ưu tiên thanh toán trước nên việc tạm giữ chiếc xe là phù hợp.
Vì vậy, để giữ tính ổn định của bản án sơ thẩm và phúc thẩm đồng thời để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cho bị hại và gia đình bị hại, xét thấy không cần thiết phải sửa bản án sơ thẩm về phần xử lý vật chứng. Do đó, Hội đồng giám đốc thẩm không chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 104/QĐ-VC2 ngày 14-9-2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 382; khoản 1 Điều 388; Điều 389 Bộ luật tố tụng hình sự;
1. Không chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 104/QĐ-VC2 ngày 14-9-2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2017/HSST ngày 25-8-2017 của Tòa án nhân dân thị xã B1, tỉnh Đắk Lắk về phần xử lý vật chứng.
3. Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.
| Nơi nhận: - TANDTC (Vụ I); - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - TAND thị xã B1; - Chi cục THADS thị xã B1; - Bị cáo, người tham gia TT (theo địa chỉ); - Lưu các Phòng: GĐKT I; HCTP; VTLT. | TM. ỦY BAN THẨM PHÁN CHÁNH ÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Anh Tiến |