- Tranh chấp gì? "áp dụng biện pháp xử lý hành chính"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Tuấn K. Tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk, địa chỉ: xã T, huyện P, tỉnh Đắk Lắk.
- Căn cứ chính? Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| số: 08/2018/QĐ - TA Ngày: 05/11/2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Ông Võ Thanh Hà
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thúy Hằng
Ngày 04 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy, tỉnh Đắk Lắk, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 08/2018/QĐ-TA, ngày 29 tháng 10 năm 2018 đối với:
Họ và tên: Lương Tuấn K. Giới tính: Nam.
Tên gọ i khá c: Không
Sinh ngày: 02/12/1981
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phậ t giá o; Trình độ văn hóa: 8/12
Nguyên quán: Huyện C, tỉnh Đồng Tháp
Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Không có nơi ở nhất định
Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp
Tiền án: Không; tiền sự: Không
Con ông: Lương Bá N và bà: Trần Thị Đ
Có sự tham gia của:
- Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Kim O – Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện P, tỉnh Đắk Lắk. Đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Văn C - Phó trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện P, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt).
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pắc: Bà Phạm Thị Thủy -Kiểm sát viên (có mặt).
NHẬN THẤY
Đối tượng Lương Tuấn K bị Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện P đề nghị đưa vào Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy đối với hành vi như sau: Lương Tuấn K sử dụng ma túy từ đầu năm 2014 cho đến nay bằng hình thức là chính ma túy vào cơ thể và Lương Tuấn K đã bỏ nhà đi sinh sống lang thang ở tỉnh Đắk Lắk.
Ngày 29/8/2018, Công an huyện P lập công văn số 992/CV- CAH đề nghị Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk xét nghiệm xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Lương Tuấn K.
Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 29/8/2018, Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk kết luận: Kết quả xét nghiệm Lương Tuấn K có chất MOP (+) dương tính loại que test tổng hợp.
Biên bản ghi lời khai, bản tường trình cũng như tại phiên họp hôm nay Lương Tuấn K khai nhận: Lương Tuấn K bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2014. Loại ma túy K sử dụng là heroin, hình thức sử dụng là chính ma túy vào cơ thể . Vào ngày 29/8/2018 Lương Tuấn K có hành vi sử dụng ma túy sau đó bị Cơ quan Công an huyện P tiến hành trưng cầu xét nghiệm, Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk đã tiến hành lấy mẫu nước tiểu của Lương Tuấn K và thử nước tiểu bằng thanh thử Test và có kết quả MOP (+) dương tính loại que test tổng hợp.
Tại công văn số 44/LĐTB&XH-PCTNXH ngày 10/9/2018 cũng như tại phiên họp hôm nay đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội đề nghị Tòa án dụng khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để đưa đối tượng Lương Tuấn K vào Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk. Thời gian đề nghị áp dụng là 24 (Hai mươi bốn) tháng.
Quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên họp:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị. Tại phiên họp sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi của người bị đề nghị, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P đề nghị Tòa án nhân dân huyện P đưa Lương Tuấn K vào cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ vào khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 96, Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 19, Điều 20, Điều 22 pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/1/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của cơ quan đề nghị, Viện kiểm sát và người tham gia phiên họp. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện P giải quyết theo hướng chấp nhận hồ sơ đề nghị áp dụng đưa Lương Tuấn K vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
XÉT THẤY
Tại phiên họ p ngà y hôm nay và biên bản sử dụng trái phép chất ma túy ngày 29/8/2018, bản tường trình ngày 29/8/2018, người bị đề nghị Lương Tuấn K đã thừa nhận: Vào ngày 29/8/2018 Lương Tuấn K có hành vi sử dụng ma túy heroin bằng cách chích ma túy và cơ thể tại xã E, huyện P, tỉnh Đắk Lắk. Lời khai của người bị đề nghị, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ việc, cũng như kết quả làm việc tại phiên họp ngày hôm nay.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lương Tuấn K đã có đủ cơ sở xem xét đưa Lương Tuấn K vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016. Do đó đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện P là có căn cứ.
Khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:
1.“Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định”.
Xét tính chất mức độ hành vi vi phạm: Hành vi sử dụng trái pháp chất ma túy của Lương Tuấn K gây mất trật tự an ninh công cộng, làm phức tạp thêm tình hình quản lý các chất ma túy và góp phần làm gia tăng thêm các tệ nạn xã hội.
Xét ý thức và nhân thân của người bị đề nghị: Bản thân Lương Tuấn K có năng lực trách nhiệm hành chính đầy đủ, ý thức được tác hại của việc sử dụng chất ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng do bị lệ thuộc vào chất ma túy nên đã có hành vi sử dụng chất ma túy nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Lương Tuấn K sử dụng ma túy từ năm 2014 và từ năm 2016 Lương Tuấn K đã bỏ nhà đi lang thang tại tỉnh Đắk Lắk, Nay Lương Tuấn K vẫn tiếp tục sử dụng ma túy là vi phạm khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013. Việc cách ly ra khỏi cộng đồng một thời gian để đưa Lương Tuấn K đi cai nghiện bắt buộc là điều cần thiết, nhằm mục đích giúp Lương Tuấn K chữa bệnh, cai nghiện, tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội về sau và bảo đảm an ninh trật tự chung cho xã hội.
Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ việc người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 cần áp dụng để giảm nhẹ cho người bị đề nghị thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị đã được chuẩn bị đầy đủ, chặt chẽ, đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật; Bảo đảm sự tham gia và quyền lợi của người bị đề nghị, không vi phạm về thời hiệu, thời hạn giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012;
Điều 22, Điều 23 và Điều 31 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Tuấn K. Tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk, địa chỉ: xã T, huyện P, tỉnh Đắk Lắk.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện là 2 (Hai) năm, kể từ ngày chấp hành biện pháp xử lý hành chính.
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính Lương Tuấn K có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
- Cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện P có quyền kiến nghị quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
- Viện kiểm sát nhân dân huyện P có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện P; Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện P, Đắk Lắk; Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk.
| Nơi nhận: - VKSND huyện K; - Phòng LĐTB & XH huyện K; - Công an huyện K; - Cơ sở điều trị, cai nghiện MT tỉnh Đắk Lắk; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán (Đã ký) Võ Thanh Hà |