- Tranh chấp gì? án dân sự — "Phạm Văn T- Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn T. Xác định anh Nguyễn Văn T và chị Mạc Thị Th nợ ông Phạm Văn T số tiền là 147.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 430 Bộ luật dân sự buộc vợ chồng anh T
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KINH MÔN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2018/DS- ST Ngày: 06-8-2018 V/v " tranh chấp hợp đồng dân sự " |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KINH MÔN- TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Quốc Huy
2. Bà Phạm Thị Chuộng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hiền Lương- Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Quách Thị Nên - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/2018/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2018 về việc " tranh chấp hợp đồng dân sự".
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2018/QĐXX-ST ngày 09 tháng 7 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số:07/2018/ QĐST-DS ngày 26/7/2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1965
Địa chỉ: Thôn D, xã L, huyện KM, tỉnh Hải Dương.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1971 và chị Mạc Thị Th, sinh năm 1972
Đều ở địa chỉ: Thôn D, xã L, huyện KM, tỉnh Hải Dương.
( Ông T, anh T có mặt, chị Th vắng mặt có ủy quyền cho anh T)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là ông Phạm Văn T trình bày: Ông và vợ chồng anh Nguyễn Văn T, chị Mạc Thị Th có mối quan hệ là hàng xóm. Ông có làm trang trại nuôi lợn thịt bán. Vào khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2017 vợ chồng anh T có mua lợn của ông về kinh doanh. Hai bên hợp đồng mua bán bằng miệng và thỏa thuận hình thức thanh toán mua lần nào trả lần đấy. Vợ chồng anh T mua lợn của ông làm nhiều lần và đã thanh toán tiền cho ông. Đến cuối năm 2017 anh chị không mua lợn của ông nữa nên hai bên đã cùng chốt số nợ còn lại. Số tiền vợ chồng anh T còn nợ lại ông là 147.500.000 đồng. Ông và vợ chồng anh T có ghi số nợ vào giấy nhưng không thỏa thuận về lãi suất và cụ thể ngày nào trả. Từ khi chốt nợ đến nay đã nhiều lần ông đến yêu cầu anh T, chị Th phải thanh toán số nợ nhưng anh chị không trả. Ông yêu cầu anh chị phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ là 147.500.000 đồng theo như giấy các bên đã cùng kí nhận và lãi suất theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên sau đó ông chỉ yêu cầu anh T chị Th phải trả toàn bộ số tiền nợ là 147.500.000 đồng và tự nguyện không yêu cầu trả lãi suất. Ông không đồng ý cho anh chị trả dần.
Bị đơn là chị Mạc Thị Th và anh Nguyễn Văn T trình bày: Khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2017 anh chị có mua lợn của ông T về mổ bán thịt. Hai bên hợp đồng mua bán bằng miệng và cùng thỏa thuận mua lần nào thanh toán tiền lần đó. Trong quá trình mua lợn của ông T anh chị đã thanh toán tiền nhưng vẫn còn nợ lại. Đến tháng 12 năm 2017 anh chị không mua lợn của ông T nữa hai bên đã làm giấy chốt nợ. Trong nội dung giấy ghi tổng số nợ còn lại anh chị chưa trả ông T là 147.500.000 đồng, hai bên không thỏa thuận về lãi suất và cụ thể thời gian trả tiền. Kể từ khi chốt nợ đến nay vợ chồng anh chưa thanh toán được cho ông T. Nay anh chị xác định còn nợ ông T số tiền 147.500.000 đồng là đúng. Anh chị đồng ý trả nhưng xin được trả dần mỗi tháng từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng nhưng không đồng ý trả lãi suất.
Tại phiên tòa nguyên đơn ông Phạm Văn T giữ nguyên quan điểm đã trình bày tại quá trình giải quyết vụ án, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Bị đơn anh Nguyễn Văn T đồng ý trả cho ông T số tiền nợ 147.500.000 đồng làm hai lần; lần thứ nhất vào tháng 12 năm 2018 trả 50.000.000 đồng; lần thứ 2 vào năm 2019 trả toàn bộ số tiền còn lại. Nếu ông không đồng ý thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án chấp hành đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng theo quy định của Điều 70, 71,72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 430; 431;434; 433; 440; 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 228; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết 326/2016 /UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn T. Buộc anh Nguyễn Văn T và chị Mạc Thị Th phải có trách nhiệm thanh toán toàn bộ số tiền 147.500.000 đồng cho ông Phạm Văn T.
Về án phí: Anh Nguyễn Văn T và chị Mạc Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
. Về tố tụng: Tại phiên tòa bị đơn chị Mạc Thị Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 và có ủy quyền cho anh Nguyễn Văn T. Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Th.
. Xét yêu cầu của nguyên đơn Hội đồng xét xử nhận thấy: Khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2017 ông Phạm Văn Thẩm có bán cho anh Nguyễn Văn T và chị Mạc Thị Th lợn thịt để anh chị kinh doanh. Hai bên hợp đồng mua bán bằng miệng, mua lần nào trả tiền ngay lần đó. Anh T và chị Th mua lợn của ông làm nhiều lần và đã thanh toán tiền cho ông. Đến cuối năm 2017 anh chị không mua lợn nữa hai bên đã cùng chốt số nợ còn lại được thể hiện theo giấy ông T cung cấp cho Tòa án là 147.500.000 đồng. Anh T, chị Th xác định số nợ này là đúng và đồng ý trả cho ông T. Do vậy, yêu cầu của ông Phạm Văn T là có căn cứ nên cần áp dụng Điều 430; 431; 433; 440 của Bộ luật dân sự buộc vợ chồng anh T, chị Th phải có trách nhiệm thanh toán toàn bộ số nợ là 147.500.000 đồng.
Về yêu cầu trả lãi suất: Tại quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay ông Phạm Văn T vẫn giữ nguyên quan điểm rút yêu cầu buộc vợ chồng anh T, chị Th phải trả tiền lãi theo quy định của pháp luật đối với số nợ. Ông T tự nguyện không yêu cầu tính lãi suất nên không đặt ra việc giải quyết.
Về án phí: Anh Nguyễn Văn T và chị Mạc Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 430; 431; 433;434; 440; 468 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 228; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết 326/2016 /UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xử:
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn T. Xác định anh Nguyễn Văn T và chị Mạc Thị Th nợ ông Phạm Văn T số tiền là 147.500.000 đồng.
2. Buộc anh Nguyễn Văn T và chị Mạc Thị Th phải trả cho ông Phạm Văn T số tiền là 147.500.000 ( một trăm bốn mươi bảy triệu năm trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ng êi ® îc thi hµnh ¸n cã ®¬n yªu cÇu thi hµnh ¸n mµ bªn cã nghÜa vô chËm tr¶ tiÒn th× cßn ph¶i tr¶ l·i ®èi víi sè tiÒn chËm tr¶ theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
3. Về án phí: Anh Nguyễn Văn T và chị Mạc Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.375.000 ( bảy triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng. Hoàn trả lại cho ông Phạm Văn T số tiền tạm ứng án phí ông đã nộp là 3.700.000 ( ba triệu bảy trăm nghìn ) đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2017/0001666 ngày 07/6/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kinh Môn.
Báo cho nguyên đơn, bị đơn được biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Đương sự
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKSND huyện Kinh Môn;
- Chi cục THADS huyện Kinh Môn;
- Lưu hồ sơ, Tòa án.
Nguyễn Thị Nguyệt
| Nơi nhận: - Đương sự - VKSND huyện Kinh Môn; - Chi cục THADS huyện Kinh Môn; - Lưu hồ sơ, Tòa án. Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Nguyệt THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Nguyệt |