- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "viêc dân sự"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 Bộ luật Dân sự; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Sè: 07 /2022/Q§ST-VDS Ngày 29 tháng 9 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc: yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức
và làm chủ hành vi
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Ngọc Hòa - Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hương- Thư ký Tòa án,
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Lập Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 29/9/2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 114/2022/TLST-VDS ngày 16/6/2022, về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự; Đơn thay đổi yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thành yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi ngày 21/9/2022; Theo Quyết định mở phiên họp số: 114/2022/QĐST - VDS ngày 21/9/2022:
I. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1957, nơi cư trú: Ninh Môn, Hiền Ninh, Sóc Sơn, Hà Nội.
II. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên bố chị Lê Thị S, sinh năm 1986, nơi cư trú: Ninh Môn, Hiền Ninh, Sóc Sơn, Hà Nội là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 27/4/2022 nộp tại Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn và trong quá trình giải quyết vụ việc, người yêu cầu là bà Nguyễn Thị L trình bày như sau:
Tôi và chồng là ông Lê Thế K (sinh năm 1957, chết ngày 03/5/2019) sinh được 04 người con chung là: Anh Lê Thế K, sinh năm 1981; Chị Lê Thị X, sinh năm 1983; Chị Lê Thị S, sinh năm 1986; Chị Lê Thị L, sinh năm 1989.
Chị S khi lên 02 tuổi có bị sốt cao chạy vào não, sau khi khỏi bệnh chị không còn như trước. Chị Sinh có đi học nhưng không học được và không biết chữ. Chị S hay khóc và nói linh tinh khi không hài lòng. Hiện tại, chị S chưa kết hôn và ở với tôi, chị S chỉ biết chăn bò và nếu ra ngoài không biết làm gì.
Sau khi có Kết luận giám định số 233/KLGĐ ngày 09/9/2022 của Viện pháp y tâm thần Trung Ương thì chị Sinh chỉ bị hạn chế, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên tôi thay đổi yêu cầu tuyên bố chị S mất năng lực hành vi dân sự thành yêu cầu tuyên bố chị S có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định tôi làm người giám hộ cho chị Sinh.
Tại Văn bản ghi nhận quá trình giám định sức khỏe tâm thần ngày 09/9/2022 của Viện pháp y tâm thần Trung Ương ghi nhận: Đối tượng tiếp xúc chậm, cảm xúc hời hợt, hành vi ngờ nghệch, đơn điệu, tư duy nhịp chậm, rời rạc, đối tượng trả lời giám định viên gằng từng từ đơn giản, trí nhớ, trí tuệ kém, không làm được các phép tính đơn giản, không hiểu ý nghĩa các câu ca dao, tục ngữ thông dụng, chú ý kém tập trung, ăn ngủ được. Đối tượng có thể làm được những việc đơn giản nếu có người đôn đốc, nhắc nhở, giám sát. Nôi khoa thần kinh không có gì đặc biệt.
Tại Kết luận giám định số 233/KLGĐ ngày 09/9/2022 của Viện pháp y tâm thần Trung Ương đã kết luận: Tại thời điểm giám định đối tượng Lê Thị S bị bệnh Chậm phát triển tâm thần vừa. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F71. Đối tượng hạn chế, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn phát biểu ý kiến:
-Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Tòa án đã thực hiện đúng các quy định pháp luật về thủ tục giải quyết việc dân sự theo quy định từ Điều 361 đến Điều 369 Bộ luật tố tụng dân sự cũng như thực hiện thu thập chứng cứ đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
-Về nội dung: Sau khi đánh giá, phân tích nội dung việc dân sự, đại diện Viện kiểm sát đã đi đến kết luận và đề nghị:
Căn cứ Điều 23, Điều 54 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu của đương sự là tuyên bố chị Lê Thị S là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi và cử bà Nguyễn Thị L là người giám hộ cho chị Lê Thị S. Quyền, nghĩa vụ của người giám hộ được thực hiện theo Điều 57 và 58 Bộ luật dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, Hà Nội nhận định:
[1] Về tố tụng:
Xét đơn yêu cầu, đơn thay đổi yêu cầu của bà Nguyễn Thị L thì đây là yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi đối với chị Lê Thị S, sinh năm 1986, nơi cư trú: Ninh Môn, Hiền Ninh, Sóc Sơn, Hà Nội. Theo quy định tại khoản 1 điều 27, điều 35, điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, việc yêu cầu này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị L về tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi đối với chị Lê Thị S:
Căn cứ vào các tài liệu bà L giao nộp cho Tòa án là; Bản sao Căn cước công dân của chị Lê Thị S; Bản sao sổ hộ khẩu gia đình chị Lê Thị S, sơ yếu lý lịch của chị Lê Thị S, xác nhận của địa phương, tại hàng xóm liền kề với gia đình chị Lê Thị S và các tài liệu chứng cứ khác. Ngày 04/8/2022, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn đã ra Quyết định trưng cầu giám định về việc giám định sức khỏe tâm thần đối với chị Lê Thị S tại Viện pháp y tâm thẩn Trung Ương.
Tại Kết luận giám định số 233/KLGĐ ngày 09/9/2022 của Viện pháp y tâm thần Trung Ương đã kết luận: Tại thời điểm giám định đối tượng Lê Thị S bị bệnh Chậm phát triển tâm thần vừa. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F71. Đối tượng hạn chế, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Như vậy, kết luận giám định số 233/KLGĐ ngày 09/9/2022 của Viện pháp y tâm thần Trung Ương phù hợp với các tài liệu chứng cứ bà L xuất trình và xác minh của Tòa án tại địa phương. Do đó có đủ cơ sở kết luận chị Lê Thị S là Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và yêu cầu của bà L là có cơ sở, phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận theo quy định tại Điều 23, Điều 54 Bộ luật dân sự.
[3] Đối với yêu cầu của bà L đề nghị được cử bà là người giám hộ cho chị Lê Thị S: Xét thấy, bà L có nhân thân tốt, cũng là mẹ đẻ của chị S, nên việc giám hộ cho chị S là rất cần thiết. Do đó chỉ định bà Nguyễn Thị L là mẹ đẻ của chị Lê Thị S là người giám hộ cho chị Lê Thị S. Quyền, nghĩa vụ của người giám hộ được thực hiện theo Điều 57 và 58 Bộ luật dân sự.
[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Hà Nội có căn cứ và phù hợp với nhận định của Tòa án.
[5] Về lệ phí việc dân sự: Do bà L là người cao tuổi nên không phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Bà L có quyền kháng cáo quyết định theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điều 23, Điều 54 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Các Điều 361, 367, 370, 371, 376, 377 và 378 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị L về việc tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi đối với chị Lê Thị S, sinh năm 1986, nơi cư trú: Ninh Môn, Hiền Ninh, Sóc Sơn, Hà Nội.
1.1. Tuyên bố chị Lê Thị S, sinh năm 1986, nơi cư trú: Ninh Môn, Hiền Ninh, Sóc Sơn, Hà Nội là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi.
2. Cử bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1957, nơi cư trú: Ninh Môn, Hiền Ninh, Sóc Sơn, Hà Nội (là mẹ đẻ) là người giám hộ cho chị Lê Thị S.
2.1. Quyền, nghĩa vụ của người giám hộ được thực hiện theo Điều 57 và 58 Bộ luật dân sự.
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị L là người cao tuổi nên không phải chịu lệ phí việc dân sự.
4. Bà Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
5. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKS nhân dân huyện Sóc Sơn; - Chi cục THA dân sự huyện Sóc Sơn; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP TRẦN NGỌC HÕA |