vanban.org

Quyết định 07

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Đức T.

Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chình bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, người bị áp dụng có quyền khiếu nại. Cơ quan đề nghị có quyền … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Bùi Đức T bị áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Đức T.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính n ăm; Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính n ăm; Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
toµ ¸n nh©n d©n
huyÖn Q
TỈNH N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Sè: 07 /2019/Q§ST-DS

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Bà Phan Thị Đóa

2. Thư ký phiên họp: Bà Vũ Hoàng Phương

Ngày 30 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh N tiến hành phiên họp xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số:110/QĐ – TA ngày 22 tháng 8 năm 2019, đối với:

Họ và tên: Bùi Đức T, sinh ngày 19/5/1997. Tên gọi khác: Không

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

Trình độ văn hóa: 10/12

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khối 7 thị trấn C, huyện Q, tỉnh N.

Con ông: Bùi Tiến L và bà Võ Thị H.

Vắng mặt tại phiên họp ( không có lý do).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện Q: Ông Trần Ngọc Minh, chức vụ: Phó phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện Q.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q: Bà Vũ Thị Kiều, chức vụ: Kiểm sát

viên.

NHẬN THẤY:

Bùi Đức T là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2017. Tháng 3 năm 2017, T được Ban cai nghiện ma túy tại thị trấn C tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng.

Sau cai nghiện, T không làm chủ được bản thân, bị bạn bè rủ rê lôi kéo nên đã tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 22/5/2019, Công an huyện Q, công an thị trấn C phối hợp với trạm y tế thị trấn C tổ chức xét nghiệm đối với Bùi Đức T, kết quả xét nghiệm T có dương tính với ma túy; đồng thời T đã công nhận kết quả xét nghiệm đối với mình là đúng và khai nhận hành vi sử dụng ma túy thời gian qua, gây mất trật tự an ninh trên địa bàn thị trấn.

Do đó UBND thị trấn C lập hồ sơ đề nghị đưa Bùi Đức T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp, Đại diện phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện Q đề nghị đưa Bùi Đức T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục – Lao động và Xã hội II N với thời hạn 24 tháng.

Tại phiên họp Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Cơ quan lập hồ sơ, cơ quan đề nghị và Tòa án đã tuân thủ đúng quy định pháp luật trong việc lập hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Bùi Đức T. Đề nghị Tòa án xem xét đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Đức T với thời hạn từ 15 đến 18 tháng.

XÉT THẤY:

Các tài liệu tại hồ sơ có đủ căn cứ kết luận Bùi Đức T là đối tượng nghiện chất ma túy, đã được chính quyền địa phương tổ chức cai nghiện tại gia đình và cộng đồng. Sau cai nghiện Tuân không tiến bộ, tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, Hội đồng tư vấn UBND thị trấn C họp và lập hồ sơ đề nghị đưa T đi cai nghiện bắt buộc là đúng quy định tại Điều 95 và khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2013.

Hiện nay Bùi Đức T đang nghiện chất ma túy, thường xuyên quan hệ với các đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định và không thể tự cai nghiện tại gia đình và cộng đồng, nên cần thiết phải cách ly khỏi cộng động một thời gian, đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để học tập, lao động và rèn luyện tạo điều kiện cho Tuân từ bỏ ma túy, sống có ích cho gia đình và xã hội, ổn định an ninh trật tự tại địa phương như đề nghị của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và xã hội là phù hợp.

Căn cứ vào các điều 20, 22, 30, 31, và 32 pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13, ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, về trình tự, thủ tục, xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chình tại Tòa án nhân dân.; Khoản 2 điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính n ăm 2013.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Đức T.

2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chình bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, người bị áp dụng có quyền khiếu nại. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị. Trường hợp người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định của Tòa án

Người khiếu nại phải gửi đơn đến Tòa án đã xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ khiếu nại; Cơ quan đề nghị kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp kháng nghị bằng văn bản trong đó nêu rõ lý do và căn cứ kiến nghị, kháng nghị gửi đến Tòa án đã xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Q phối hợp với Công an huyện Q đưa Bùi Đức T vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục – Lao động và Xã hội II N.

Cỡ chữ