vanban.org

Quyết định 07/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại: Cơ sở cai nghiện ma túy số II, địa chỉ: Ph, xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình đối với Phạm Quang Đ.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 19 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại: Cơ sở cai nghiện ma túy số II, địa chỉ: Ph, xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình đối với Phạm Quang Đ.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI CHÂU
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/QĐ-TAMai Châu, ngày 06 tháng 3 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Phạm Thanh Tùng.

2. Thư ký phiên họp: Ông Hà Thế Anh

Ngày 06 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 07/QĐ-TA ngày 28/02/2018 đối với:

Phạm Quang Đ; giới tính: Nam; sinh ngày 08/3/1976; CMND 113056189, ngày cấp: 13/3/2007, nơi cấp: Công an tỉnh Hòa Bình; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; nguyên quán: X, X, Nam Định; hộ khẩu thường trú, nơi cư trú: Xóm X, xã X, huyện M, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Trồng trọt; tiền án: Không, tiền sự: Không; con ông Phạm Công Đ (đã chết) và bà Phạm Thị N. Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lò Đình Duyên – Cán bộ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình là đại diện theo ủy quyền.

2. Đại diện Viện kiểm sát: Ông Bùi Văn Hải - Kiểm sát viên.

3. Người đại diện hợp pháp của người bị đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa cơ sở cai nghiện bắt buộc: Không có.

4. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị: Không có.

5. Những người khác: Không có.

NHẬN THẤY:

Hành vi vi phạm của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Phạm Quang Đ đã bị UBND xã X, huyện M, tỉnh Hòa Bình áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số: 108/QĐ-UBND ngày 22/10/2017 do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn là 03 tháng từ ngày 22/10/2017 đến ngày 22/01/2018 và đã từng bị đưa đi cai nghiện chất ma túy bắt buộc và đã cai nghiện tại cộng đồng. Sau thời gian chấp hành quyết định nêu trên Phạm Quang Đ không tiến bộ đến ngày 23/01/2018 qua việc xét nghiệm chất ma túy đối với người nghiện chất ma túy là Phạm Quang Đ, đã có kết luận của cơ quan, người có thẩm quyền về việc Phạm Quang Đ đến thời điểm hiện tại có nghiện ma túy, là heroine và ma túy tổng hợp. Công an xã X đã lập biên bản về sử dụng trái phép chất ma túy, bản thân Phạm Quang Đ cũng làm bản tường trình về việc còn sử dụng chất ma túy.

- Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Phạm Quang Đ là đối tượng nghiện chất ma túy đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn và đã từng bị kết án, bị đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc, cai nghiện tại cộng đồng nhưng không có tiến bộ vẫn nghiện chất ma túy. Qua các tài liệu có trong hồ sơ đã được Phòng Tư pháp kiểm tra tính pháp lý, đã có đủ căn cứ để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Quang Đ mức 24 tháng.

- Ý kiến của người bị đề nghị tại phiên họp: Tôi nghiện chất ma túy từ năm 1994, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng tôi vẫn sử dụng chất ma túy nên tôi bị lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Việc cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ đối với tôi là đúng tôi không có thắc mắc gì. Tiền án tôi đã được xóa án tích, không có tiền sự, tôi đã đi cai nghiện 01 lần chấp hành xong từ năm 2005. Nay hoàn cảnh tôi khó khăn phải nuôi một mẹ già 80 tuổi, vợ con không có nên đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ mức xử lý cho tôi. Tôi được nghe phổ biến đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình, không có ý kiến yêu cầu gì khác.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thể hiện sau thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, nhưng Phạm Quang Đ vẫn sử dụng chất ma túy. Trong hồ sơ và tại phiên họp Phạm Quang Đ đã thành khẩn khai báo nên cũng coi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Không có tình tiết tăng nặng, nhân thân đã từng bị kết án, đã bị đưa đi cai nghiện bắt buộc 01 lần và đã cai nghiện tại cộng đồng. Đủ điều kiện để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc hợp lý từ 18 đến 20 tháng đối Phạm Quang Đ.

- Qua công tác kiểm sát, xem xét hồ sơ Viện kiểm sát nhận thấy hồ sơ đã lập đầy đủ, thực hiện đúng trình tự thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013, đã được sửa đổi bổ sung theo Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ; Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Phạm Quang Đ đã được Tòa án tống đạt đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng.

XÉT THẤY:

- Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đã đầy đủ danh mục các loại tài liệu theo quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Điều 9 Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ, đã được sửa đổi bổ sung theo Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nội dung các tài liệu phù hợp với quy định pháp luật, thể hiện đúng với hành vi của Phạm Quang Đ.

- Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng: Hành vi của Phạm Quang Đ gây nguy hại cho xã hội và bản thân, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện chất ma túy, đã được cai nghiện tại cộng đồng, nhưng không lấy đó làm bài học rèn luyện tu dưỡng bản thân mà vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình lập hồ sơ Phạm Quang Đ đã thành khẩn khai báo thể hiện tại bản tường trình về hành vi của mình nên cũng coi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Không có tình tiết tăng nặng. Về nhân nhân, nay không còn là tiền án tiền sự nhưng đã từng bị đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc, đã từng bị kết án, Phạm Quang Đ nhận thức rõ hành vi sử dụng trái phép, nghiện chất ma túy của mình là nguy hại, trái pháp luật nhưng vẫn bất chấp tất cả để thỏa mãn lối sống, nhu cầu bản thân. Những người tham gia phiên họp cũng có ý kiến Phạm Quang Đ đủ điều kiện và cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Từ những đánh giá nêu trên đã có đủ lý do, căn cứ và sự cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Quang Đ theo quy định tại khoản 2 Điều 95; khoản 1 Điều 96; khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại: Cơ sở cai nghiện ma túy số II, địa chỉ: Ph, xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình đối với Phạm Quang Đ.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 19 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với quyết định. Thời hạn kiến nghị, kháng nghị là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình phối hợp với Công an huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình thi hành quyết định này.

Cỡ chữ