vanban.org

Quyết định 07/2026/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Nguyễn Thị D - Trương Thanh T"
  • Tòa quyết gì? SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Dân sự; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/2026/QĐST-VDSThành phố Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 3 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Bà Đỗ Thị Lan Hương

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Kim Xuân

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 - Thành Phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên họp: Bà Đặng Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 15 - Thành Phố

Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 11/2025/TLST-VDS ngày 16 tháng 5 năm 2025 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2026/QĐST- VDS ngày 26/02/2026, gồm những người tham gia tố tụng sau:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1980; địa chỉ:

Số A đường C, tổ B, khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Hồ Trọng

P, sinh năm 1992; địa chỉ liên hệ: Số nhà E, đường N, khu T, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 25/4/2025), có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Thanh T, sinh năm 1969;

địa chỉ: Số A đường C, tổ B, khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).

Bà Trương Gia H, sinh năm 2000 và ông Trương Gia H1, sinh năm 2005; cùng địa

chỉ: Số A đường C, tổ B, khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu đề ngày 25/4/2025, bà Nguyễn Thị D trình bày:

Bà Nguyễn Thị D và ông Trương Thanh T là vợ chồng, đăng ký kết hôn tại Ủy ban

nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) ngày 30/10/2000 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 41, quyền số 02/2000 và sinh sống tại số nhà A đường C, tổ B, khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Bà D, ông T có 02 con chung tên Trương Gia H, sinh năm 2000 và Trương Gia H1, sinh năm 2005.

Ngày 18/7/2018, ông Trương Thanh T bỏ nhà đi không rõ lý do, bà D cùng gia

đình đã tìm kiếm bằng nhiều cách và đăng thông báo tìm người mất tích trên báo B vào các ngày 25, 26 và 27/12/2019 nhưng đến nay vẫn không có tin tức của ông Trương Thanh T đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Việc ông T biệt tích nhiều năm liền không có tin tức đã gây ra cho gia đình bà D nhiều khó khăn trong việc thực hiện các thủ tục hành chính, các giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật.

Tính từ khi ông Trương Thanh T bỏ nhà đi ngày 18/7/2018 đến nay đã trên 05

năm, tại phiên họp, ông Hồ Trọng P là người đại diện hợp pháp của bà D yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trương Thanh T là đã chết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 - Thành Phố Hồ Chí Minh phát biểu

quan điểm:

Về tố tụng: Tòa án nhân dân Khu vực 15 - Thành Phố Hồ Chí Minh thụ lý việc dân

sự là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định tại các Điều 367, 369, 392 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào Điều 71 của Bộ luật dân sự đề nghị chủ tọa phiên họp

chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị D về việc tuyên bố ông Trương Thanh T sinh năm 1969, nơi cư trú cuối cùng: Số A, đường C, tổ B, khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) là đã chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đã được thẩm

tra tại phiên họp, ý kiến của đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Khu vực 15 - Thành Phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trương Gia H và ông

Trương Gia H1 có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt những người có tên nên trên.

Về nội dung: Theo lời trình bày của bà Nguyễn Thị D và người đại diện hợp

pháp cùng các tài liệu, chứng cứ giao nộp thể hiện: Bà Nguyễn Thị D, ông Trương Thanh T là vợ chồng, đăng ký kết hôn năm 2000, sinh sống tại số nhà A đường C, tổ B, khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Ông T, bà D có 02 con chung tên Trương Gia H, sinh năm 2000 và Trương Gia H1, sinh năm 2005.

Ngày 18/7/2018 ông Trương Thanh T bỏ nhà đi biệt tích đến nay không trở về,

gia đình đã tìm kiếm bằng nhiều cách trong đó có đăng báo nhưng không có tin tức ông T còn sống hay đã chết. Do vậy, bà Nguyễn Thị D yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trương Thanh T là đã chết.

Bà Nguyễn Thị D nộp kèm đơn xác nhận đề ngày 02/11/2020 với nội dung đề nghị

Ban điều hành khu phố C, phường P và Công an phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương xác nhận ông Trương Thanh T mất tích từ ngày 18/7/2018, gia đình đã trình báo sự việc đến Công an phường, tìm kiếm nhiều nơi, đăng báo B để tìm nhưng không có tin tức. Đơn xin xác nhận của bà D được Ban điều hành khu phố C, phường P và Công an phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương xác nhận là có thật. Tại đơn đề nghị đề ngày 05/6/2025 của bà D, Công an phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương xác nhận ông Trương Thanh T đã mất tích không còn sinh sống và đăng ký cư trú tại địa phương.

Toà án nhân dân Khu vực 15 - Thành Phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết

định số 01/QĐ-VDS ngày 15/10/2025 thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với ông Trương Thanh T, sinh năm 1969, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Số nhà A đường C, tổ B, khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương: Đăng trên báo T1 03 kỳ liên tiếp vào các ngày 18, 19 và 20 tháng 10 năm 2025; phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam - Cơ quan thường trú tại Thành phố Hồ Chí Minh trong 03 ngày liên tiếp các ngày 16, 17 và 18/10/2025; đăng thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh nhưng đến nay ông Trương Thanh T không đến Toà án làm việc theo thông báo, bà Nguyễn Thị D cũng không có tin tức nào khác về ông T.

Do vậy, bà Nguyễn Thị D yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trương Thanh T đã chết

là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 391 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 71 của Bộ luật Dân sự nên có căn cứ chấp nhận.

Bà Nguyễn Thị D trình bày ông Trương Thanh T bỏ nhà đi ngày 18/7/2018,

mặc dù bà D không giao nộp được chứng cứ như tin nhắn, hình ảnh, sự kiện để chứng minh nhưng căn cứ đơn trình bày của bà D về thời gian ông T bỏ nhà đi được Công an phường P, thành phố T tỉnh Bình Dương và hiện nay là Công an phường T xác nhận, Tòa án có cơ sở xác định ông Trương Thanh T đã bỏ nhà đi biệt tích từ ngày 18/7/2018. Theo quy định tại khoản 1 Điều 71, Điều 147, 148 của Bộ luật Dân sự, ngày ông Trương Thanh T chết được xác định là ngày 19/7/2023.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 - Thành Phố Hồ Chí

Minh tại phiên họp phù hợp với quy định của pháp luật và nội dung hồ sơ việc dân sự.

Về chi phí tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết trên các phương tiện

thông tin đại chúng: Bà Nguyễn Thị D phải chịu và đã thực hiện xong.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị D phải chịu theo quy

định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ÐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, các Điều 184; 367, 369,

370, 371, 372, 383, 384, 385, 391, 392 và Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 71, 72 và Điều 148 của Bộ luật dân sự;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị D về việc Yêu cầu tuyên bố một

người là đã chết.

1.1 Tuyên bố ông Trương Thanh T sinh năm 1969, nơi cư trú cuối cùng: Số nhà A

đường C, tổ B, khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) là đã chết vào ngày 19/7/2023.

1.2 Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của ông Trương Thanh T được giải quyết

như đối với người đã chết theo quy định của pháp luật.

2. Về chi phí tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết trên các phương tiện

thông tin đại chúng: Bà Nguyễn Thị D phải chịu và đã thực hiện xong.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: bà Nguyễn Thị D phải nộp 300.000 đồng

(ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/24 số 0001941, ngày 09/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 15

- Thành Phố Hồ Chí Minh).

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định

giải quyết việc dân sự trong hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện Kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ