- Tranh chấp gì? "Nguyễn Tuấn A"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hàn…; Điều 104 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hàn…; Điều 23 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 07 /2025/QĐ-TA | Đắk Lắk, ngày 26 tháng 9 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐẮK LẮK.
Với thành phần phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Trọng Hối.
2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Thanh Tuấn– Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đắk Lắk.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đắk Lắk tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, hồ sơ thụ lý số 07/2025/TLHS ngày 18 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định mở phiên họp số: 07/2025/QĐ-TA ngày 22 tháng 9 năm 2025, đối với:
Đối với: Nguyễn Tuấn A – Sinh năm 1990;
Nơi cư trú: Thôn 14, xã E B, tỉnh Đắk Lắk.
Nghề nghiệp: Làm nông.
Con ông: Nguyễn Bá D và con bà Trần Thị Ph.
Có sự tham gia của:
1. Cơ quan đề nghị: Công an xã E B, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện: Ông Y H Niê Kđăm - Chức vụ: Trưởng Công an xã E B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đắk Lắk: Bà Vi Thị Hằng – Kiểm sát viên. (Có mặt).
NHẬN THẤY:
Các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ xác định: Ngày 17/9/2025, Nguyễn Tuấn A bị Công an xã E B, tỉnh Đắk Lắk lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị cai nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng hình thức thay thế, xử lý vi phạm đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 17/9/2025 của Trung tâm y tế E S kết luận: Nguyễn Tuấn A dương tính ma túy loại Heroin. Các tài liệu trong hồ sơ Nguyễn Tuấn A đã thừa nhận bản thân nghiện ma túy, thời điểm bắt đầu sử dụng ma túy là từ năm 2007 cho đến nay, do buồn chán.
Tại phiên họp đại diện Công an xã E B, tỉnh Đắk Lắk đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Nguyễn Tuấn A vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 20 (hai mươi) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng.
Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đắk Lắk phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết của Thẩm phán, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia phiên họp, kể từ khi thụ lý vụ việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán xem xét, quyết định giải quyết vụ việc dân sự đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung:
Nguyễn Tuấn A là người sử dụng trái phép chất ma túy, nghiện ma tuý và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1; khoản 2 Điều 256a về tội sử dụng trái phép chất ma tuý, theo quy định tại khoản 20 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2025.
Ngày 17/9/2025, Nguyễn Tuấn A bị Công an xã E B lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Hành vi của Nguyễn Tuấn A là đã gây ảnh hưởng tới tình hình trật tự trị an trên địa bàn. Ngoài ra còn làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, là một trong các nguyên nhân dẫn đến các bệnh nguy hiểm, làm phát sinh các vi phạm pháp luật khác.
Căn cứ quy định tại Điều 103, 104 Luật số: 88/2025/QH15 ngày 25/06/2025 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật xử lý vi phạm hành chính, việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Tuấn A là có căn cứ.
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đắk Lắk đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 2
- Đắk Lắk áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Tuấn A, thời hạn cai nghiện bắt buộc từ 20 tháng đến 24 tháng.
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ; trên cơ sở xem xét toàn diện các tài liệu, chứng cứ; ý kiến của cơ quan đề nghị, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp.
XÉT THẤY:
Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Tuấn A của Công an xã E B, tỉnh Đắk Lắk được thực hiện đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo đúng quy định tại Điều 101 Luật xử lý vi phạm hành chính và theo Điều 8 thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01 tháng 03 năm 2025 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân Tối cao - Tòa án nhân dân Tối cao, quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh thủ tục bắt giữ tàu biển, pháp lệnh thủ tục bắt giữ tàu bay, pháp lệnh trình tự, thủ tục tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng, pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại tòa án nhân dân và pháp lệnh chi phí tố tụng
Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính Nguyễn Tuấn A đã trên 18 tuổi nên đủ điều kiện bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và vẫn còn trong thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp, đã xác định hành vi sử dụng ma túy của Nguyễn Tuấn A không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1; khoản 2 Điều 256a về tội sử dụng trái phép chất ma tuý, theo quy định tại khoản 20 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2025. Do đó, cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính để đưa Nguyễn Tuấn A vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết nhằm giúp người nghiện sớm tái hòa nhập cộng đồng và góp phần hạn chế tỷ lệ người nghiện trên địa bàn. Xét tính chất, mức độ, hậu quả và hành vi sử dụng ma túy của Nguyễn Tuấn A cũng như đề nghị của Công an xã E B, tỉnh Đắk Lắk và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đắk Lắk tại phiên họp là có cơ sở nên cần thiết phải đưa Nguyễn Tuấn A đi cai nghiện bắt buộc một thời gian nhất định là phù hợp.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 103, 104 Luật số: 88/2025/QH15 ngày 25/06/2025 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật xử lý vi phạm hành chính; Các Điều 23, Điều 24, Điều 25, Điều 31, Điều 32 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:
Đối với: Nguyễn Tuấn A – Sinh năm 1990;
Nơi cư trú: Thôn 14, xã E B, tỉnh Đắk Lắk.
Nghề nghiệp: Làm nông.
Con ông: Nguyễn Bá D và con bà Trần Thị Ph.
2. Nơi chấp hành: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk tại thôn 4, xã Tân Tiến, tỉnh Đắk Lắk.
3. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 02 (hai) năm, thời hạn kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
4. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính vắng mặt có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết.
Thời hạn kiến nghị của Trưởng Công an cấp xã, kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
5. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
6. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã E B, tỉnh Đắk Lắk và Cơ sở điều trị, cai nghiện bắt buộc tỉnh Đắk Lắk tại thôn 4, xã Tân Tiến, tỉnh Đắk Lắk.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - CA xã E B, tỉnh Đắk Lắk; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk; - VKSND Khu vực 2 – Đắk Lắk; - UBND xã E B, tỉnh Đắk Lắk; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký) Nguyễn Trọng Hối |