vanban.org

Quyết định 07/2024/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 11/09/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Lê Minh Đ về việc tuyên bố anh Lê Quang TR đã chết.

Tuyên bố anh Lê Quang TR, sinh năm 1985. Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 10, khu L, phường L, thành phố T, tỉnh P đã chết. Ngày chết của anh Lê Quang TR là ngày 24/4/2020. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thâ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Ông Đ đề nghị tuyên bố anh Tr đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Lê Minh Đ về việc tuyên bố anh Lê Quang TR đã chết.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 391 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ V
TỈNH P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/2024/QĐST-DSV, ngày 11 tháng 9 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

“Về việc: Tuyên bố một người đã chết”

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH P

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán - chủ tọa phiên họp: Bà Đào Thị H

- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Bích H - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh P.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh P tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Thanh H - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh P mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 51/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 102/2024/QĐST-DS ngày 04 tháng 9 năm 2024 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Ông Lê Minh Đ, sinh năm 1960;

Địa chỉ: Tổ 10, khu L, phường L, thành phố T, tỉnh P.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960;

Địa chỉ: Tổ 10, khu L, phường L, thành phố T, tỉnh P.

2. Anh Lê Quang TR, sinh năm 1985;

Địa chỉ: Tổ 10, khu L, phường L, thành phố T, tỉnh P.

3. Cháu Lê Nguyễn Gia K, sinh ngày 23/11/2012

Người đại diện theo pháp luật: Chị Nguyễn Hồng H, sinh năm 1991.

Đều có địa chỉ: Phường 5, quận N, thành phố M.

(Ông Đ, bà H, chị H, cháu K xin giải quyết vắng mặt, anh TR vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và bản tự khai ông Lê Minh Đ trình bày: Tháng 10/2014, ông có con trai tên là Lê Quang TR, sinh năm 1985 có hộ khẩu tại tổ 10, khu L, phường L, thành phố T, tỉnh P bỏ nhà đi mất tích. Năm 2017 vợ của anh Lê Quang TR là chị Nguyễn Hồng H có yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh P tuyên bố anh TR mất tích tại Quyết định số 01 ngày 17/4/2017. Sau khi Tòa án tuyên bố con trai ông mất tích từ đó đến nay gia đình ông cũng không có thông tin gì về anh Lê Quang TR. Sau khi Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh P tuyên bố anh TR mất tích thì chị Nguyễn Hồng H đã có đơn xin ly hôn với anh TR. Tại bản án số 16 ngày 30/5/2017 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh P đã giải quyết cho chị Nguyễn Hồng H được ly hôn với anh Lê Quang TR. Vợ chồng anh TR, chị H có với nhau một người con chung là cháu Lê Nguyễn Gia K, sinh ngày 23/11/2012. Chị H và cháu K hiện đang ở phường 5, quận N, thành phố M.

Nay không có tin tức gì của anh Lê Quang TR nên ông đề nghị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh P tuyên bố anh TR đã chết.

- Bà Nguyễn Thị H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Tháng 10/2014, bà có con trai là Lê Quang TR, sinh năm 1985 có hộ khẩu tại tổ 10, khu L, phường L, thành phố T, tỉnh P bỏ nhà đi mất tích. Năm 2017 vợ của anh Lê Quang TR là chị Nguyễn Hồng H có yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh P tuyên bố anh TR mất tích tại Quyết định số 01 ngày 17/4/2017. Sau đó chị H đã làm đơn xin ly hôn anh TR và tại bản án số 16 ngày 30/5/2017 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh P đã giải quyết cho chị H được ly hôn với anh TR. Vợ chồng anh TR, chị H có duy nhất một người con chung là cháu Lê Nguyễn Gia K, sinh ngày 23/11/2012. Từ ngày Tòa án tuyên bố anh TR mất tích cho đến nay, gia đình không có tin tức gì của anh TR. Nay ông Lê Minh Đ là chồng bà yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Lê Quang TR đã chết, bà hoàn toàn nhất trí.

- Chị Nguyễn Thị H là người đại diện theo pháp luật của cháu Lê Nguyễn Gia K trình bày: Chị và anh Lê Quang TR là vợ chồng và có một con chung là cháu Lê Nguyễn Gia K, sinh ngày 23/11/2012. Năm 2014 anh TR mất tích không có thông tin, tin tức gì, vì vậy đến năm 2017 chị đã yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh P tuyên bố anh Lê Quang TR mất tích. Sau khi Tòa án tuyên bố anh TR mất tích chị đã làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh P giải quyết cho chị được ly hôn với anh TR và tại bản án số 16 ngày 30/5/2017 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh P đã giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Quang TR và chị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Nguyễn Gia K. Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp khi ly hôn chị xác định giữa chị và anh TR không có gì. Nay ông Lê Minh Đ là bố đẻ anh TR yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Lê Quang TR đã chết, là người đại diện hợp pháp cho cháu Lê Nguyễn Gia K chị có quan điểm như sau: Từ ngày anh TR mất tích cho đến nay chị và con trai chị đều không có thông tin, tin tức gì của anh TR, nay ông Đ đề nghị Tòa án tuyên bố anh TR đã chết chị nhất trí và đề nghị Tòa án tuyên bố anh TR đã chết theo quy định pháp luật.

Ngoài ra do công việc của chị rất bận không thể có thời gian trực tiếp tham gia giải quyết vụ việc, do vậy chị đề nghị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh P cho chị và con trai là Lê Nguyễn Gia K được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc cũng như các phiên họp giải quyết vụ việc của Tòa án.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tại Công an phường L, thành phố T, tỉnh P và được cung cấp thông tin như sau: Anh Lê Quang TR, sinh năm 1985 trước đây có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 10, khu L, phường L, thành phố T, tỉnh P, nhưng hiện nay anh TR không đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 10, khu L, phường L, thành phố T, tỉnh P. (Đã xóa khẩu ngày 09/3/2024). Hiện tại anh Lê Quang TR không có mặt tại địa phương.

Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số: 137/2024/QĐ-TA ngày 24/4/2024 để thông báo tìm kiếm anh Lê Quang TR theo quy định của pháp luật và đăng trên báo Trung ương (Báo công lý) trong ba số báo liên tiếp số 36, 37, 38 vào các ngày 03/5, 08/5 và 10/5/2024; đăng thông báo trên Đài tiếng nói Việt Nam (VOV) ba lần trong ba ngày liên tiếp ngày 04, 05 và 06/5/2024 và đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhưng từ đó đến nay vẫn không có tin tức gì đối với anh Lê Quang TR. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo đầu tiên (ngày 03/5/2024) anh TR không có mặt tại Tòa án và không có mặt tại địa phương cũng như không có thông tin, tin tức xác thực gì.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh P tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự:

Từ khi thụ lý việc dân sự đến khi mở phiên họp, Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Anh Lê Quang TR, sinh năm 1985, nơi cư trú cuối cùng: Tổ 10, khu L, phường L, thành phố T, tỉnh P không có thông tin gì từ ngày 23/10/2014 và được Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh P tuyên bố mất tích theo Quyết định số: 01/2017/QĐST-DS ngày 07/4/2017 nhưng đến nay vẫn không có tin tức xác thực gì mặc dù đã được Tòa án áp dụng đầy đủ các thủ tục thông báo tìm kiếm theo quy định pháp luật, vì vậy đề nghị Hội đồng phiên họp:

Áp dụng khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, khoản 2 Điều 180, Điều 371, 372, 391, 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1, khoản 2 Điều 12, Điều 14, Điều 16 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Lê Minh Đ về việc tuyên bố anh Lê Quang TR đã chết. Tuyên bố anh Lê Quang TR, sinh năm 1985. Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 10, khu L, phường L, thành phố T, tỉnh P đã chết. Ngày chết của anh Lê Quang TR là ngày 24/4/2020.

Hậu quả pháp lý: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Ông Lê Minh Đ, bà Nguyễn Thị H thực hiện khai tử cho anh Lê Quang TR theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Về lệ phí đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng: Ông Lê Minh Đ pH chịu 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Xác nhận ông Lê Minh Đ đã nộp đủ số tiền trên.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Lê Minh Đ được miễn tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh P nhận định:

. Về tố tụng: Anh Lê Quang TR, sinh năm 1985, nơi cư trú cuối cùng: Tổ 10, khu L, phường L, thành phố T, tỉnh P. Ông Lê Minh Đ là bố đẻ của anh Lê Quang TR đề nghị Tòa án tuyên bố anh Lê Quang TR đã chết. Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 391 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh P là đúng quy định pháp luật.

Ông Lê Minh Đ là người yêu cầu; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H và cháu Lê Nguyễn Gia K (cháu K do chị Nguyễn Hồng H là người đại diện theo pháp luật) có đơn xin được vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ khoản 2, 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp theo quy định của pháp luật.

. Về nội dung: Yêu cầu tuyên bố anh Lê Quang TR đã chết của ông Lê Minh Đ thấy rằng: Anh Lê Quang TR, sinh năm 1985, địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi mất tích: Tổ 10, khu L, phường L, thành phố T, tỉnh P vắng mặt tại nơi cư trú từ ngày 23/10/2014 đến nay. Tại Quyết định dân sự số: 01/2017/QĐST-DS ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh P đã tuyên bố anh Lê Quang TR mất tích, tính từ thời điểm quyết định có hiệu lực pháp luật ngày 23/4/2017 đến thời điểm Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh P thụ lý vụ việc tuyên bố anh Lê Quang TR đã chết ngày 11/4/2024 là 06 năm 01 tháng 18 ngày. Căn cứ theo quy định điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 71 Bộ luật Dân sự thì đơn yêu cầu tuyên bố anh Lê Quang TR đã chết của ông Lê Minh Đ là đủ thời hạn để Tòa án xem xét, giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ việc, Tòa án đã xác minh tại Công an phường L, thành phố T, tỉnh P xác định anh Lê Quang TR hiện không có mặt ở địa phương đồng thời Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với anh Lê Quang TR theo quy định của pháp luật nhưng đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo đầu tiên (ngày 03/4/2024) anh Lê Quang TR không có mặt tại Tòa án, không có mặt tại địa phương và không có thông tin, tin tức xác thực gì.

Do vậy, ông Lê Minh Đ là bố đẻ của anh Lê Quang TR đề nghị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh P tuyên bố anh Lê Quang TR đã chết là có căn cứ được chấp nhận và thời điểm xác định ngày chết của anh Lê Quang TR là sau 03 năm kể từ ngày Quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật là ngày 23/4/2020 nên ngày chết của anh Lê Quang TR được xác định là 24/4/2020.

. Về lệ phí tố tụng:

- Về lệ phí đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng: Tổng số tiền lệ phí đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng là 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Do ông Lê Minh Đ có đơn yêu cầu thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và theo quy định tại khoản 2 Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định trong trường hợp này, lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng do đương sự có yêu cầu thông báo chịu. Do đó ông Lê Minh Đ pH chịu số tiền trên. Xác nhận ông Lê Minh Đ đã nộp đủ số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng).

- Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Lê Minh Đ là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền lệ phí nên không pH chịu lệ phí theo quy định pháp luật.

. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh P là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, khoản 2 Điều 180, Điều 371, 372, 391, 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1, khoản 2 Điều 12, Điều 14, Điều 16 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Lê Minh Đ về việc tuyên bố anh Lê Quang TR đã chết.

3. Tuyên bố anh Lê Quang TR, sinh năm 1985. Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 10, khu L, phường L, thành phố T, tỉnh P đã chết. Ngày chết của anh Lê Quang TR là ngày 24/4/2020.

Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.

Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Ông Lê Minh Đ, bà Nguyễn Thị H thực hiện khai tử cho anh Lê Quang TR theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

4. Về lệ phí đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng: Ông Lê Minh Đ pH chịu 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Xác nhận ông Lê Minh Đ đã nộp đủ số tiền trên.

5. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Lê Minh Đ được miễn tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm

6. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh P có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ