- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "tuyên bố công dân chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của ông T:
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 07/2024/QĐST-DS | Quận 3, ngày 03 tháng 5 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trương Phú Oanh
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Ngọc T – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Tuyết Sương - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3 mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 542/2023/TLST-DS ngày 04 tháng 12 năm 2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 136/2024/QĐST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông T, sinh năm 1951
Địa chỉ: 166 Cư xá Đ, đường L, Phường 1, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với: Bà Y, sinh năm 1982
Địa chỉ: 166 Cư xá Đ, đường L, Phường 1, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan:
1. Bà B, sinh năm 1953
2. Bà L, sinh năm 1979
3. Bà T, sinh năm 1984
Cùng địa chỉ: 166 Cư xá Đ, đường L, Phường 1, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 04/12/2023 và bản tự khai, người yêu cầu ông T trình bày:
Ông và bà B là vợ chồng, có 03 người con chung là L, sinh năm 1979, Y, sinh năm 1982 và T, sinh năm 1984.
Từ năm 2017 đến nay, bà Y bỏ nhà tại 166 Cư xá Đ, đường L, Phường 1, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh đi đâu không rõ. Gia đình đã tìm kiếm khắp nơi nhưng không nhận được tin tức của bà Y. Gia đình đã làm thủ tục tuyên bố bà Y mất tích vào năm 2020. Nay ông T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Y là đã chết để thuận tiện trong thực hiện các giao dịch dân sự L quan bà Y.
Tại các bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan bà Nguyễn Thị B, bà Hồ Thị Ngọc L, Hồ Thị Ngọc T trình bày: Các đương sự xác nhận mối quan hệ nhân thân và việc biệt tích trên 05 năm của bà Y như người yêu cầu ông T đã trình bày. Bà B, bà L và bà T thống nhất với yêu cầu tuyên bố bà Y là đã chết.
Tại phiên họp, các đương sự đều có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và đề nghị ghi nhận ý kiến tại bản tự khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 tham gia phiên họp phát biểu:
Về tố tụng: các đương sự đã chấp hành quy định pháp luật, Thẩm phán và Thư ký phiên họp đã tiến hành tố tụng đúng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và phần trình bày của các đương sự có căn cứ xác định bà Y là đã chết. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 3 nhận định:
Về tố tụng:
Người yêu cầu ông T yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với bà Y. Bà Y có địa chỉ nơi cư trú cuối cùng tại Quận 3 nên đây là việc dân sự yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3 được quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét người yêu cầu ông T, người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan bà Nguyễn Thị B, bà Hồ Thị Ngọc L, Hồ Thị Ngọc T cùng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Vì vậy tại phiên họp hôm nay, Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt các đương sự trên là phù hợp với quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung yêu cầu giải quyết:
Căn cứ nội dung trình bày của các đương sự và văn bản trả lời xác minh của Công an Phường 1, Quận 3, bà Y có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ 166 Cư xá Đ, đường L, Phường 1, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng bỏ nhà đi đâu không rõ từ năm 2017 đến nay.
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã ra Quyết định Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số 408/2023/QĐ-TA ngày 14/12/2023. Nội dung quyết định thông báo tìm kiếm bà Y được đăng trên báo hàng ngày của trung ương trong B số L tiếp, Cổng thông tin điện tử Tòa án và phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam trong thời hạn 4 tháng theo Điều 388 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức của bà Y.
Tại Quyết định giải quyết sơ thẩm việc dân sự về việc tuyên bố một người mất tích số 1116/2020/QĐST-DS ngày 01/12/2020 của Tòa án nhân dân Quận 3 tuyên bố bà Y có nơi cư trú cuối cùng tại 166 cư xá Đ, đường L, Phường 1, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh mất tích, ngày có tin tức cuối cùng là ngày 01/01/2018.
Tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự quy định về trường hợp tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết như sau:
“Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này.”
Tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự quy định về thời hạn như sau:
“Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng”.
Xét thấy, lời trình bày của các đương sự phù hợp với kết quả xác minh của Công an Phường 1, Quận 3 và các tài liệu, chứng cứ khác. Tòa án có cơ sở xác định bà Y đã biệt tích trên 5 năm liền và không có tin tức xác thực là còn sống. Ngày có tin tức cuối cùng của bà Y là ngày 01/01/2018 và xác định ngày chết là ngày 02/01/2023 theo khoản 1 Điều 68 và khoản 2 Điều 71 Bộ luật Dân sự Do đó, Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông T tuyên bố bà Y đã chết là phù hợp theo quy định tại điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71 Bộ luật Dân sự.
Về chi phí đăng báo: Người yêu cầu ông T tự nguyện chịu nên Tòa án không xem xét.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông T được miễn nộp lệ phí do thuộc diện người cao tuổi theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Bn thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, khoản 2, khoản 3 Điều 367, Điều 370, 371, 372, 389 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 68, Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 12, Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Bn thường vụ Quốc Hội;
Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự.
1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của ông T:
1.1 Tuyên bố bà Y, sinh năm 1982, địa chỉ cư trú cuối cùng: 166 Cư xá Đ, đường L, Phường 1, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết. Ngày chết của bà Y là ngày 02/01/2023.
1.2 Khi quyết định này có hiệu lực pháp luật, các quan hệ về hôn nhân gia đình, tài sản và các quan hệ khác về nhân thân của bà Y được giải quyết như đối với một người đã chết. Tài sản của bà Y được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
2. Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Ông T được miễn nộp lệ phí.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan đến việc giải quyết việc dân sự được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND Quận 3; - TAND TP.HCM; - Chi cục THADS Q3; - UBND P1, Quận 3, Tp.HCM; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | TM.HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trương Phú Oanh |