vanban.org

Quyết định 07/2024/QĐCNHG-DS — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 06/12/2024, cụ thể như sau:

Tài sản chung của anh Nguyễn Sỹ Q và chị Lê Thị T trong thời kỳ hôn nhân gồm nhà ở cấp 4 trần đổ bê tông có giá trị còn lại 502.553.000 đồng. Cổng có giá trị còn lại 4.356.000 đồng. Tường bao có giá trị còn lại là 714.000 đồng, mái tôn nhà bếp và nái tôn trước sân có giá trị còn lại 6.676.000 đồng. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án chia tài sản chung vợ chồng sau khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 06/12/2024, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀNG MAI
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/2024/QĐCNHG-DSHoàng Mai, ngày 26 tháng 12 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

Căn cứ vào các điều 32, 33, 34, 35, 36 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ vào yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành của của chị Lê Thị T và anh Nguyễn Sỹ Q

Sau khi nghiên cứu:

- Đơn khởi kiện yêu cầu tranh chấp phân chia tài sản chung vợ chồng sau khi ly hôn đề ngày 22/11/2024 của chị Lê Thị T

- Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 06 tháng 12 năm 2024 về việc giải quyết toàn bộ tranh chấp của các bên tham gia hòa giải sau đây:

- Người khởi kiện: chị Lê Thị T, sinh năm 1983

Địa chỉ: Thôn A, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

- Bị đơn anh Nguyễn Sỹ Q, sinh năm 1981

Địa chỉ: Thôn A, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Sỹ T và chị Nguyễn Thị T. Cùng địa chỉ: Thôn A, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

- Các tài liệu kèm theo Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án và các tài liệu do Tòa án thu thập được theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Kết quả hòa giải thành được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hoà giải ngày 06 tháng 12 năm 2024 có đủ các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 06/12/2024, cụ thể như sau:

Tài sản chung của anh Nguyễn Sỹ Q và chị Lê Thị T trong thời kỳ hôn nhân gồm nhà ở cấp 4 trần đổ bê tông có giá trị còn lại 502.553.000 đồng. Cổng có giá trị còn lại 4.356.000 đồng. Tường bao có giá trị còn lại là 714.000 đồng, mái tôn nhà bếp và nái tôn trước sân có giá trị còn lại 6.676.000 đồng. Tổng giá trị tài sản theo giá thị trường là 516.537.000 đồng. Toàn bộ công trìn nhà được xây dụng trên một phần thửa đất số 313 tờ bản đồ số 74 tại thôn A, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An thuộc quyền sử dụng của anh Nguyễn Sỹ T và chị Nguyễn Thị T.

Chia đôi tài sản chung theo giá trị mỗi người được chia 258.268.500 đồng. Anh Q và chị T thống nhất làm tròn mỗi người được chia 258.000.000 đồng.

Giao cho anh Nguyễn Sỹ Q được quyền sở hữu tài sản gồm nhà ở, tường bao, cổng, mái tôn có tổng trị giá tài sản là 516.537.000 đồng.

Anh Nguyễn Sỹ Q có nghĩa vụ giao lại cho chị Lê Thị T số tiền chênh lệch tài sản được chia là 258.000.000 đồng. (Anh Q đã giao đầy đủ số tiền 258.000.000 đồng cho chị T).

Đối với các tài sản chung khác và nợ anh Q và chị T tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Sỹ T và chị Nguyễn Thị T tiếp tục cho anh Nguyễn Sỹ Q được ở trên một phần thửa đất số 313 tờ bản đồ số 74 tại thôn 13, xã Quỳnh Vinh, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An thuộc quyền sử dụng của anh Nguyễn Sỹ T và chị Nguyễn Thị T.

2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ