vanban.org

Quyết định 07/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TX. Hương Trà, TP. Huế Tuyên án 17/05/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của ông Ngô Văn T:

Tuyên bố ông Ngô Văn To, sinh năm 1936; nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố Giáp Thượng 2, phường Hương Văn, Thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế đã chết ngày 26/5/2019. Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "tuyên bố một người đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của ông Ngô Văn T:
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Số: 07/2022/ QĐST-VDS
Hương Trà, ngày 17 tháng 5 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

(V/v Yêu cầu tuyên bố một người đã chết)

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Mai Thị Mộng Trinh

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Phương - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Hương Trà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Lê Diệu Hảo - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế (Số 05 Độc Lập, phường Tứ Hạ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế) mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 18/2021/TLST-VDS ngày 11 tháng 10 năm 2021, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”, theo Quyết định mở phiên họp số 01/2022/QĐMPH ngày 05 tháng 5 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Ông Ngô Văn T, sinh năm 1967; địa chỉ: Tổ dân phố G 2, phường Hương Văn, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

- Người liên quan: Ông Ngô Văn To, sinh năm 1936; nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố G 2, phường Hương Văn, Thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Là người bị yêu cầu tuyên bố một người là đã chết).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trương Thị B, sinh năm 1937; địa chỉ: Tổ dân phố G 2, phường Hương Văn, Thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

2. Bà Ngô Thị T, sinh năm 1961; địa chỉ: Tổ dân phố B, phường Hương Văn, Thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai, lời trình bày tại phiên họp, người yêu cầu ông Ngô Văn T trình bày:

Cha ông là ông Ngô Văn To có người vợ đầu là bà Trần Thị Sen sinh được 01 người con gái là Ngô Thị T. Năm 1963 bà Sen chết nên ông To kết hôn với bà Trương Thị B và sinh ra ông. Trong thời gian này ông To đi lính trong chế độ cũ. Tháng 11 năm 1967, ông To có trở về thăm mẹ con ông trong một thời gian ngắn thì trở về lại đơn vị và biệt tích từ đó đến nay. Sau khi đất nước hoàn To giải phóng, mẹ con ông đã cố gắng tìm kiếm tin tức của ông To nhưng vẫn không có kết quả.

Ngày 10/5/2016, Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà đã ra Quyết định giải quyết việc dân sự số 02/2016/QĐVDS-ST tuyên bố ông Ngô Văn To mất tích.

Quá trình giải quyết việc dân sự, sau khi ông Ngô Văn T là người yêu cầu đã làm thủ tục tìm kiếm thông tin của ông Ngô Văn To trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 04 tháng. Đến nay đã hết thời hạn đăng tin thông báo nhưng gia đình vẫn không có tin tức gì của ông To là còn sống, ông To cũng không liên lạc gì với vợ con và gia đình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Trương Thị B đã già yếu, nằm một chỗ không đi lại được nên không có lời khai. Bà Ngô Thị T nhất trí như ý kiến của ông T là đề nghị Tòa án tuyên bố ông Ngô Văn To là một người đã chết. Do hiện nay bà T bị bệnh nặng đi lại khó khăn nên xin giải quyết vắng mặt.

Tại phiên họp ông Ngô Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Ngô Văn To là đã chết.

Tại phiên họp hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán Thư ký và những người tham gia tố tụng khác là đảm bảo theo quy định. Đề nghị Tòa án áp dụng các Điều 27, 35, 39, 68, 144, 149, 391, 392, 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 68, 71, 72 của Bộ luật dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông Ngô Văn T về việc tuyên bố Ngô Văn To, sinh năm 1936; nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố Giáp Thượng 2, phường Hương Văn, Thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế một người là đã chết. Quan hệ nhân thân và tài sản liên quan đến ông Ngô Văn To được giải quyết như đối với người đã chết. Về lệ phí giải quyết việc dân sự và quyền kháng cáo giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà nhận định:

Về thẩm quyền: Ông Ngô Văn To có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại tổ dân phố Giáp Thượng 2, phường Hương Văn, Thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì việc ông Ngô Văn T yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với ông Ngô Văn To thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà.

Về nội dung: Ông Ngô Văn To đi khỏi nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố Giáp Thượng 2, phường Hương Văn, Thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 1967 đến nay đã 55 năm liền mà không có tin tức xác thực là còn sống. Ông Ngô Văn T, bà Ngô Thị T là con đẻ của ông To cũng xác nhận ông To bỏ đi biệt tích đến nay 55 năm liền mà không có tin tức xác thực ông To còn sống.

Sau khi nhận được đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của ông Ngô Văn T và đề nghị thông báo tìm kiếm thông tin ông Ngô Văn To trên các phương tiện thông tin đại chúng, Toà án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số 193/2021/QĐ-TA ngày 29/10/2021 và đã tiến hành đăng tin tìm kiếm ông Ngô Văn To trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án. Ông Ngô Văn T cũng đã tiến hành thủ tục thông báo tìm kiếm ông Ngô Văn To trên báo Tuổi trẻ Việt Nam trong ba kỳ liên tiếp vào các ngày 09, 10, 11/11/2021 và đăng tin tìm kiếm ông Ngô Văn To trên Trung tâm truyền hình Việt Nam (VTV8) ba lần vào các ngày 09, 10, 11/11/2021. Việc đăng tin thực hiện đúng theo quy định tại Điều 384 và Điều 385 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đến nay đã hết thời hạn công bố thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng (04 tháng) mà vẫn không có tin tức xác thực là ông Ngô Văn To còn sống. Do đó căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 71 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Toà chấp nhận yêu cầu của ông Ngô Văn T về việc tuyên bố ông Ngô Văn To đã chết là có căn cứ pháp luật.

Về xác định ngày chết của ông Ngô Văn To: Quyết định tuyên bố ông Ngô Văn To mất tích của Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế ban hành ngày 10/5/2016, sẽ có hiệu lực sau thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày quyết định niêm yết theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Như vậy, quyết định trên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 26/5/2016, cho đến nay vẫn không có tin tức xác thực là ông To còn sống. Như vậy, ngày chết của ông To được xác định sau 03 năm kể từ ngày quyết định tuyên bố ông To mất tích có hiệu lực pháp luật, tức là ngày 26/5/2019 theo quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 71 của Bộ luật Dân sự.

Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết: Căn cứ Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì:

- Quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người bị Toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết.

- Quan hệ tài sản của người bị Toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

. Về lệ phí: Ông Ngô Văn T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo quyết định này theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 68; Điều 143; Điều 144; khoản 2 Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 367; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 391; Điều 392; Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 68, 71, 72 của Bộ luật dân sự;

- Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của ông Ngô Văn T:

Tuyên bố ông Ngô Văn To, sinh năm 1936; nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố Giáp Thượng 2, phường Hương Văn, Thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế đã chết ngày 26/5/2019.

2. Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết:

- Quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông Ngô Văn To được giải quyết như đối với người đã chết.

- Quan hệ tài sản của ông Ngô Văn To được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông Ngô Văn To được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Về lệ phí: Ông Ngô Văn T phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án mà ông đã nộp tại biên lai thu tiền số 0001304 ngày 11/10/2021 tại Chị cục thi hành án dân sự thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông Ngô Văn T đã nộp đủ.

4. Người yêu cầu có mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ