- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Văn D1.
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 07/2022/QĐST - VDS | Quế Võ, ngày 20 tháng 4 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phan Đình Công
Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Hòa
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tham gia phiên họp: Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Võ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 41/2021/TLST - VDS ngày 18 tháng 11 năm 2021 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 21/2022/QĐST- VDS ngày 12 tháng 4 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Trần Văn D1, sinh năm 1978
Trú tại: Thôn Phù Lãng, xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Anh D1 vắng mặt, có đề nghị vắng mặt.
Anh Trần Văn D1 yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh tuyên bố bà Lê Thị L, sinh năm 1951; nơi cư trú cuối cùng: Thôn Phù Lãng, xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI D2 VIỆC DÂN SỰ:
Theo Đơn yêu cầu và Biên bản ghi lời khai, người yêu cầu là anh Trần Văn D1 trình bày:
Bố anh là ông Trần Văn H, sinh năm 1936 và mẹ là bà Lê Thị L, sinh năm 1951, đều là người thôn Phù Lãng, xã Phù Lãng, huyện Quế Võ. Bố mẹ anh sinh được hai người con, là anh và em gái là Trần Thị D2. Ngoài ra, bố mẹ anh không có con chung, con riêng nào khác. Bố anh, ông Trần Văn H đã chết ngày 18/10/1997 theo Giấy chứng tử do UBND xã Phù Lãng cấp, còn mẹ anh đã bỏ đi mất tích từ năm 1994, em gái anh là chị D2 cũng bỏ đi từ năm 2002.
Thời điểm lúc anh còn nhỏ thì hai anh em anh vẫn ở với bố mẹ ở thôn Phù Lãng, sau đó đến năm anh hơn 10 tuổi thì không thấy mẹ anh là bà L ở nhà nữa. Thời điểm đó anh cũng chưa hiểu gì nhiều chỉ sau này thì thấy bố anh nói là bà L bỏ đi làm ăn xa từ ngày 01/9/1994, kể từ đó về sau, anh cũng không gặp lại bà L lần nào.
Kể từ năm 1994 đến nay, gia đình đã tìm kiếm nhiều lần nhưng gia đình, họ hàng, chính quyền địa phương đến nay đều không có thông tin gì về nơi sinh sống làm việc của bà L, cũng không biết bà L còn sống hay đã chết. Sau này, gia đình anh cũng đã lấy ngày 01/9/1994 làm ngày giỗ bà L.
Nay anh đề nghị Tòa án tuyên bố bà Lê Thị L là đã chết.
Tại Biên bản xác minh ngày 26/11/2021, Trưởng họ Trần (thôn Phù Lãng) là ông Trần Văn Tr cho biết: Năm 1994, bà L bỏ đi khỏi nhà, để lại cho ông H nuôi hai con nhỏ là anh D1 và chị D2. Từ năm 1994 đến nay, họ hàng, gia đình đều không có thông tin gì về bà L, không biết hiện tại bà L sống, làm việc ở đâu, còn sống hay đã chết. Thực tế, họ hàng cũng xác định bà L đã chết từ lâu.
Tại Biên bản xác minh ngày 26/11/2021, Trưởng thôn Phù Lãng là ông Trương Hồng S cho biết: Kể từ rất lâu, gia đình anh D1 cũng như chính quyền địa phương đã không còn thấy bà L ở thôn Phù Lãng nữa. Theo mọi người nói lại thì bà L có sức khỏe tâm thần không tốt. Gia đình cũng trao đổi với địa phương là bà L đã bỏ nhà đi từ năm 1994. Kể từ đó đến nay, gia đình, họ hàng, chính quyền địa phương đều không có thông tin gì về bà L, không biết hiện tại bà L sống, làm việc ở đâu, còn sống hay đã chết. Thực tế, gia đình cũng xác định bà L đã chết từ lâu.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ phát biểu ý kiến:
Về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, thư ký trong quá trình thu thập chứng cứ, người tiến hành tố tụng tại phiên họp: Chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Về đường lối giải quyết: Áp dụng khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các điều 149, 361, 370, 371, 372 và 393 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Đều 68; điểm d khoản 1 và khoản 2 Điều 71, Điều 72 của Bộ luật dân sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Toà án.
- Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Văn D1, tuyên bố bà Lê Thị L là đã chết. Ngày chết của bà L được xác định là ngày 01/09/1999.
- Anh Trần Văn D1 phải chịu L phí giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Quế Võ nhận định:
Về tố tụng:
Bà L Thị L, sinh năm 1951 có nơi cư trú cuối cùng tại thôn Phù Lãng, xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Do có liên quan về quan hệ nhân thân, về tài sản, anh Trần Văn D1 yêu cầu Tòa án tuyên bố bà L là đã chết. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Quế Võ có thẩm quyền thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết” theo yêu cầu của anh Trần Văn D1, là đúng quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Người yêu cầu là anh Trần Văn D1 vắng mặt tại phiên họp nhưng có đề nghị vắng mặt, vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 367, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
Về yêu cầu tuyên bố bà Lê Thị L là đã chết của anh Trần Văn D1:
Bà Lê Thị L có chồng là ông Trần Văn H, vợ chồng ông bà có hai người con là anh Trần Văn D1 và chị Trần Thị D2. Hiện tại, ông H đã chết, chị D2 cũng biệt tích từ lâu, chỉ còn con trai là anh D1 sinh sống tại thôn Phù Lãng. Điều này đã được chính quyền địa phương xác nhận.
Theo lời trình bày của anh D1, của trưởng họ Trần (thôn Phù Lãng) là ông Trần Văn Trường và Trưởng thôn Phù Lãng là ông Trương Hồng Sơn thì bà L đã bỏ đi biệt tích từ năm 1994 đến nay, gia đình, họ hàng, chính quyền địa phương đều không biết bà L hiện tại sinh sống, làm việc ở đâu, còn sống hay đã chết.
Mặt khác, Tòa án cũng đã ra đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết, Thông báo này đã được nhắn trên 03 số báo liên tiếp của báo Công lý - Cơ quan của Tòa án nhân dân tối cao; phát tin trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì về bà Lê Thị L.
Như vậy, đủ căn cứ xác định bà Lê Thị L đã biệt tích 05 năm liền trở lên, không có tin tức xác thực là còn sống. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự, Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh D1 về việc tuyên bố bà Lê Thị L là đã chết.
Về ngày chết của bà Lê Thị L: Theo lời trình bày anh Trần Văn D1 thì bà L bỏ đi biệt tích từ ngày 01/9/1994. Do vậy, căn cứ vào khoản 1, Điều 68; khoản 2 Điều 71 Bộ luật Dân sự thì ngày chết của bà L được xác định là ngày 01/9/1999.
Về chi phí đăng thông báo tìm kiếm bà L trên phương tiện thông tin đại chúng: Anh D1 là người yêu cầu nên phải chịu toàn bộ chi phí, xác định anh D1 đã nộp đủ.
Về L phí: Anh Trần Văn D1 phải chịu L phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ về việc giải quyết việc dân sự là phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các điều 149, 361, 370, 371, 372 và 393 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Đều 68; điểm d khoản 1 và khoản 2 Điều 71, Điều 72 của Bộ luật dân sự;
Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Văn D1.
Tuyên bố bà Lê Thị L, sinh năm 1951, nơi cư trú cuối cùng: Thôn Phù Lãng, xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đã chết.
Ngày chết của bà Lê Thị L là ngày 01/9/1999.
2. Khi quyết định này có hiệu lực pháp luật, thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà Lê Thị L được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của bà Lê Thị L được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
3. Về L phí: Anh Trần Văn D1 phải chịu 300.000 đồng L phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Xác nhận anh Trần Văn D1 đã nộp đủ theo Biên lai thu số 0004896 ngày 18/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Võ.
4. Anh Trần Văn D1 có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được thông báo, niêm yết.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ có quyền kháng nghị trong hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh có quyền kháng nghị quyết định này trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Quế Võ; - Chi cục THADS huyện Quế Võ - Người yêu cầu; - UBND xã Phù Lãng, huyện Quế Võ - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phan Đình Công |