vanban.org

Quyết định 07/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND huyện Cư M'Gar, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 01/08/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Đinh Anh D.

Tuyên bố chị Đinh Thị Hương L, sinh năm 19xx; nơi cư trú cuối cùng: thôn x, xã T, huyện C, tỉnh Đ là đã chết. Ngày chết của chị Đinh Thị Hương L là ngày 21 tháng 11 năm 2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Quyết định việc dân sự D - L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Đinh Anh D.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯM’GAR
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/2022/QĐST-VDSCưM’gar, ngày 01 tháng 8 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phùng Thị Nở.

Thư ký phiên họp: Bà Bùi Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar tham gia phiên họp: Ông Dương Hoàng Long – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 64/2022/TLST-DS ngày 17 tháng 02 năm 2022 theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 07/2022/QĐST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Đinh Anh D, sinh năm 19xx. (có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp)

Địa chỉ: Thôn x, xã T, huyện C, tỉnh Đ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đinh Thị Hương L, sinh năm 19xx.

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn x, xã T, huyện C, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 14/02/2022, người yêu cầu anh Đinh Anh D trình bày:

Anh Đinh Anh D và chị Đinh Thị Hương L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Đ. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống tại thôn x, xã T, huyện C, tỉnh Đ. Trong quá trình chung sống, anh D và chị an có 02 con chung là cháu Đinh Nữ Hà Nh sinh ngày 1x/1x/20xx và cháu Đinh Nữ Bảo Tr sinh ngày 3x/x/20xx. Từ ngày 20/11/2015, chị Đinh Thị Hương L bỏ nhà đi biệt tích, từ đó không còn bất kỳ liên lạc gì với gia đình. Anh Đinh Anh D đã tìm kiếm, thông báo nhưng cho đến nay, chị L vẫn không có tin tức gì. Hiện nay, hai con chung đang do anh D chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay, anh Đinh Anh D yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố chị Đinh Thị Hương L mất tích theo quy định của pháp luật, tạo điều kiện cho anh D được ly hôn với chị L.

Ngày 01/3/2022, anh Đinh Anh D có đơn thay đổi yêu cầu giải quyết việc dân sự, yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Đinh Thị Hương L là đã chết.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên họp trong quá trình từ khi thụ lý việc dân sự cũng như tại phiên họp đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Người yêu cầu anh Đinh Anh D đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Đinh Anh D, tuyên bố chị Đinh Thị Hương L, sinh năm 1987 là đã chết.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Đinh Anh D nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đã được thẩm tra tại phiên họp và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện CưM’gar nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét đơn thay đổi yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Đinh Anh D tuyên bố một người là đã chết đối với chị Đinh Thị Hương L có nơi cư trú cuối cùng tại thôn x, xã T, huyện C, tỉnh Đ nên căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk.

Về yêu cầu của người yêu cầu:

Chị Đinh Thị Hương L đã bỏ đi biệt tích khỏi nơi cư trú cuối cùng thôn x, xã T, huyện C, tỉnh Đ từ ngày 20/11/2015. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu của anh Đinh Anh D Tòa án nhân dân huyện CưM’gar đã thông báo, nhắn tin tìm kiếm chị Đinh Thị Hương L trên Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) 03 lần liên tiếp các ngày 23 + 24 + 25/3/2022 và nhắn tin 03 lần liên tiếp trên Báo Công lý số 025 ngày 29/3/2022, số 026 ngày 01/4/2022 và số 027 ngày 05/4/2022 nhưng không có tin tức gì của chị Đinh Thị Hương L.

Tại biên bản xác minh ngày 11/5/2022 và ngày 19/7/2022, Công an xã T, huyện C cung cấp thông tin: Chị Đinh Thị Hương L, sinh năm 19xx đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn x, xã T, huyện C, tỉnh Đ đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2015. Từ đó cho đến nay chị L không trở về địa phương. Hiện nay, chị L ở đâu, làm gì Công an xã không có thông tin.

Như vậy, có đủ cơ sở xác định chị Đinh Thị Hương L đã biệt tích 05 năm liền trở lên nên căn cứ điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71 của Bộ luật dân sự cần chấp nhận đơn yêu cầu của người yêu cầu anh Đinh Anh D, tuyên bố chị Đinh Thị Hương L là đã chết.

Về thời điểm chết của chị Đinh Thị Hương L: Chị Đinh Thị Hương L bỏ đi từ ngày 20/11/2015 theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự, ngày chị Đinh Thị Hương L bỏ đi biệt tích được xác định là ngày 20/11/2015. Vì vậy, thời điểm xác định chị Đinh Thị Hương L đã chết là ngày 21/11/2020 (sau 05 năm kể từ ngày bỏ đi biệt tích).

Về hậu quả pháp lý của việc chị Đinh Thị Hương L bị tuyên bố là đã chết: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố chị Đinh Thị Hương L đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ về tài sản của chị Đinh Thị Hương L được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của chị Đinh Thị Hương L được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự và chi phí đăng tin: Anh Đinh Anh D phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự và chi phí đăng tin theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 361, Điều 367, Điều 371, Điều 372, khoản 1 Điều 391, Điều 392, Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 68; điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ các Điều 5, 6, 36 và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của anh Đinh Anh D.

Tuyên bố chị Đinh Thị Hương L, sinh năm 19xx; nơi cư trú cuối cùng: thôn x, xã T, huyện C, tỉnh Đ là đã chết.

Ngày chết của chị Đinh Thị Hương L là ngày 21 tháng 11 năm 2020.

2. Về hậu quả pháp lý của việc chị Đinh Thị Hương L bị tuyên bố là đã chết: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố chị Đinh Thị Hương L đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ về tài sản của chị Đinh Thị Hương L được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của chị Đinh Thị Hương L được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự và chi phí đăng tin:

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Đinh Anh D phải nộp 300.000 đồng lệ phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ của nhà nước được khấu trừ vào số tiền lệ phí 300.000 đồng anh Đinh Anh D đã tạm ứng theo Biên lai số 60AA/2021/0007983 ngày 16/02/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk.

Về chi phí đăng tin: Anh Đinh Anh D phải chịu 3.050.000 đồng chi phí đăng tin, được khấu trừ vào số tiền 3.050.000 đồng anh Đinh Anh D đã nộp.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày quyết định được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.

Cỡ chữ